- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án tranh chấp xác định cha cho con giữa chị H và anh A"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thu H về việc xác định cha cho con.
- Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2023/HNGĐ-ST Ngày 05-4-2023 V/v tranh chấp xác định cha cho con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hảo
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Thao
Bà Lê Bích Thủy
- Thư ký phiên toà: Bà Lương Thị Thu Hà - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Nhật Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 92/2022/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp xác định cha cho con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2023/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thu H; nơi ĐKHKTT: Xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu; nơi tạm trú: Đường Đ, phường Đ, quận N, Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc A; nơi cư trú: Đường Đ, phường Đ, quận N, Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Vĩnh T; nơi cư trú: Xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 10 tháng 10 năm 2022, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phạm Thu H trình bày:
Chị Phạm Thu H và anh Nguyễn Ngọc A quen biết nhau từ cuối năm 2017 thì nảy sinh quan hệ tình cảm và đã có 01 con chung, sinh ngày 23/02/2019. Tuy nhiên, cháu bé được sinh ra trong thời kỳ chị Phạm Thu H và anh Trần Vĩnh T đang là vợ chồng hợp pháp. Năm 2020, chị H và anh T đã ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu theo Bản án số 19/2020/ HNGĐ-ST ngày 18/3/2020.
Theo kết quả xét nghiệm AND ngày 30/3/2019 của Viện Sinh học phân tử Loci đã khẳng định cháu bé do chị Phạm Thu H sinh ngày 23/02/2019 theo Giấy chứng sinh số 0326 quyển số 03 do Bệnh viện Phụ sản Tâm Phúc thuộc Sở Y tế Hải Phòng cấp ngày 23/02/2019 là con đẻ của anh Nguyễn Ngọc A.
Nay để đảm bảo quyền lợi của con, chị Phạm Thu H đề nghị Tòa án xác định cháu bé do chị H sinh ra ngày 23/02/2019 theo Giấy chứng sinh số 0326, quyển số 03 ngày 23/02/2019 của Bệnh viên phụ sản Tâm Phúc, Hải Phòng là con của anh Nguyễn Ngọc A.
Tại bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Ngọc A trình bày:
Anh Nguyễn Ngọc A và chị Phạm Thu H có quan hệ tình cảm với nhau từ năm 2017 và có 01 con chung sinh ngày 23/02/2019. Tuy nhiên, cháu bé sinh ra trong thời kỳ chị H và anh Trần Vĩnh T đang là vợ chồng hợp pháp. Năm 2020, chị H và anh T đã ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu theo Bản án số 19/2020/ HNGĐ-ST ngày 18/3/2020.
Theo kết quả xét nghiệm AND ngày 30/3/2019 của Viện Sinh học phân tử Loci đã khẳng định cháu bé do chị Phạm Thu H sinh ngày 23/02/2019 theo Giấy chứng sinh số 0326 quyển số 03 do Bệnh viện Phụ sản Tâm Phúc thuộc Sở Y tế Hải Phòng cấp ngày 23/02/2019 là con đẻ của anh Nguyễn Ngọc A
Nay anh A đề nghị Tòa án xác nhận cháu bé do chị H sinh ra ngày 23/02/2019 theo Giấy chứng sinh số 0326, quyển số 03 ngày 23/02/2019 của Bệnh viên phụ sản Tâm Phúc, Hải Phòng là con của anh A.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Trần Vĩnh T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng anh T đều vắng mặt không có lý do, không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nên Tòa án không ghi được lời khai của anh T và không tiến hành hòa giải được. Tại phiên tòa, anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
Tại phiên tòa, chị Phạm Thu H và anh Nguyễn Ngọc A có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh Trần Vĩnh T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử công bố lời khai của chị H và anh A, nội dung vẫn giữ nguyên quan điểm như quá trình giải quyết vụ án.
Kiểm sát viên có ý kiến như sau:
Việc tuân theo pháp luật Tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không chấp hành đúng quy định của pháp luật về việc có mặt tại Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, vắng mặt tại phiên tòa hai lần không có lý do. Nguyên đơn và bị đơn đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đúng quy định tại Điều 227; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu chứng cứ được thẩm tra công khai tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 4 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ Điều 89; khoản 2 Điều 101; khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình; căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Xác định anh Nguyễn Ngọc A là cha của cháu bé do chị Phạm Thu H sinh ngày 23/02/2019 theo Giấy chứng sinh số 0326 quyển số 03 do Bệnh viện Phụ sản Tâm Phúc thuộc Sở Y tế Hải Phòng cấp ngày 23/02/2019. Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về áp dụng pháp luật tố tụng:
+ Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Đây là vụ án tranh chấp xác định cha cho con theo quy định tại khoản 4 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn anh Nguyễn Ngọc A cư trú trên địa bàn quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng:
Nguyên đơn và bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đã có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt tấ cả những người tham gia tố tụng theo quy định tại các điều 227, 228 và 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Phạm Thu H và anh Nguyễn Ngọc A có quan hệ tình cảm và chị H có thai trong thời gian chị H và anh Trần Vĩnh T đang là vợ chồng hợp pháp. Ngày 23/02/2019, chị H đã sinh một cháu bé theo Giấy chứng sinh số 0326 quyển số 03 do Bệnh viện Phụ sản Tâm Phúc thuộc Sở Y tế Hải Phòng cấp ngày 23/02/2019.
Theo Kết quả xét nghiệm ADN ngày 30/3/2019 của Viện Sinh học phân tử Loci kết luận: “… người có mẫu AND ký hiệu Nguyễn Ngọc A và người có mẫu AND ký hiệu Nguyễn Ngọc Hoàng Ngân (theo Giấy chứng sinh số 0236, quyển số 03) có quan hệ huyết thống cha - con, với tần suất 99,9999991%”.
Từ phân tích và đánh giá như trên, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 89, khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định anh Nguyễn Ngọc A là cha của cháu bé do chị Phạm Thu H sinh ngày 23/02/2019 theo Giấy chứng sinh số 0326 quyển số 03 do Bệnh viện Phụ sản Tâm Phúc thuộc Sở Y tế Hải Phòng cấp ngày 23/02/2019.
- Về án phí:
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo:
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 89; khoản 2 Điều 101; khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thu H về việc xác định cha cho con.
Xác định anh Nguyễn Ngọc A là cha của cháu bé do chị Phạm Thu H sinh ngày 23/02/2019 theo Giấy chứng sinh số 0326 quyển số 03 do Bệnh viện Phụ sản Tâm Phúc thuộc Sở Y tế Hải Phòng cấp ngày 23/02/2019.
2. Về án phí:
Anh Nguyễn Ngọc A phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho chị Phạm Thu H số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai số 0006724 ngày 18 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
3. Quyền kháng cáo đối với bản án:
Nguyên đơn chị Phạm Thu H, bị đơn anh Nguyễn Ngọc A và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Vĩnh T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND quận Ngô Quyền; - Chi cục THADS quận Ngô Quyền; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Hảo |