- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "thay đổi người nuôi con"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh P về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn với bà Hồ Thị Vân Ph.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2023/HNGĐ-ST Ngày: 13/02/2023 V/v“Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa Phên tòa: Bà Phạm Huỳnh Tường Viên
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Văn Chuyển
Bà Lê Thị Hoa
- Thư ký Phên tòa: Bà Huỳnh Thị Thúy Kiều - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã N.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã N tham gia Phên tòa: Bà Lê Thị Bích Thảo - Kiểm sát viên
Ngày 13 tháng 02 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã N xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 605/2022/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ ra xét xử số 04/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 01 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh P – Sinh năm 1993
Địa chỉ: Thôn T, xã Ninh X, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
Có mặt tại Phiên tòa.
- Bị đơn:
Bà Hồ Thị Vân Ph – Sinh năm 1998
Địa chỉ: Thôn K, xã Ninh S, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
Có mặt tại Phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, biên bản hòa giải và tại Phiên tòa, nguyên đơn – ông Nguyễn Thanh P trình bày:
Ông và bà Hồ Thị Vân Ph đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 315/2022/QĐST-HNGĐ ngày 19/7/2022 của Tòa án nhân dân thị xã N. Quá trình chung sống, ông và bà Ph có hai con chung tên Nguyễn Hải B, sinh ngày 04/9/2020 và Nguyễn Thanh P, sinh ngày 14/10/2021. Nội dung của quyết định ly hôn giao hai con chung cho bà Ph trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Khi ông đến thăm con thì bị gia đình bà Ph ngăn cản. Đồng thời bà Ph có thu nhập không ổn định, bà làm nem từ sáng sớm đến tối mới về nên không có điều kiện chăm sóc con chung. Ông có mở cửa tiệm nhôm sắt riêng nên thu nhập ổn định 10.000.000 đồng/tháng và đang sống chung với cha mẹ nên ông bà có thể phụ chăm sóc các cháu. Vì vậy, ông yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn và ông yêu cầu được nuôi hai con chung tên Nguyễn Hải B, sinh ngày 04/9/2020 và Nguyễn Thanh P, sinh ngày 14/10/2021 và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
* Tại đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai, biên bản Phên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, biên bản hòa giải và tại Phên tòa, bị đơn – bà Hồ Thị Vân Ph trình bày:
Bà thống nhất với lời trình bày của ông Nguyễn Thanh P về việc ly hôn, con chung và các nội dung thỏa thuận theo quyết định ly hôn. Quá trình chung sống với ông P và từ khi ly hôn đến nay, hai con chung đều do bà nuôi dưỡng, chăm sóc vì ông P bận công việc làm ăn, buổi tối thường xuyên đi nhậu nên không có thời gian chăm sóc các con, ông bà nội lớn tuổi không thể chăm các cháu được. Trong khi thu nhập của bà từ làm nem là 9.000.000 đồng/tháng đảm bảo nuôi con; hàng ngày bà gửi trẻ đến chiều tối bà làm về có thời gian chăm sóc các con. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà không đồng ý và yêu cầu được tiếp tục nuôi hai con chung, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con chung.
* Tại Phên tòa, vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã N trình bày quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và tại Phên tòa là đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: xét thấy bà Hồ Thị Vân Ph là người trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng hai cháu Nguyễn Hải B, sinh ngày 04/9/2020 và Nguyễn Thanh P, sinh ngày 14/10/2021 từ khi sinh ra cho đến thời điểm hiện tại và đang sinh sống ổn định. Mặt khác, cháu B và cháu P đều còn nhỏ dưới 36 tháng tuổi cần thiết được mẹ trực tiếp chăm sóc. Tại Phên tòa, ông Nguyễn Thanh P không đưa ra tài liệu chứng cứ gì để chứng minh việc bà Ph không còn đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc các cháu theo điểm b khoản 2 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại Phên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại Phên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết:
Bà Hồ Thị Vân Ph có hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã Ninh S, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Do đó Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ tranh chấp: Ông P yêu cầu tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn với bà Ph nên Hội đồng xét xử xác định đây là “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 315/2022/QĐST-HNGĐ ngày 19/7/2022 của Tòa án nhân dân thị xã N thể hiện giao hai con chung tên Nguyễn Hải B, sinh ngày 04/9/2020 và Nguyễn Thanh P, sinh ngày 14/10/2021 cho bà Ph trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; bà Ph không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung; ông P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Xét yêu cầu khởi kiện của ông P: Bản thân ông P cho rằng bà Ph không có nghề nghiệp thu nhập ổn định nên không có điều kiện chăm sóc các con nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình là có căn cứ. Tuy nhiên qua xác nhận của bà Nguyễn Thị Hoa P – Chủ Doanh nghiệp tư nhân nem chả H, địa chỉ: Thôn D, xã S, thị xã N, Khánh Hòa có cơ sở xác định hiện nay bà Hồ Thị Vân Ph có nghề nghiệp và thu nhập ổn định. Sau khi ly hôn hai con chung do bà Ph trực tiếp nuôi dưỡng phát triển tốt mặc dù ông P không cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay hai cháu đang học tại Trường mầm non C được cô giáo nhận xét có sức khỏe tốt. Tại biên bản xác minh ngày 29/12/2022 đối với ông Nguyễn Văn Đ, Trưởng thôn và bà Kiên Thị Mỹ T, Chi hội trưởng Hội phụ nữ thôn có nội dung “Bà Ph hiện đang trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung từ lúc ly hôn cho đến nay, các con được bà Ph gửi trẻ tư thục, chăm sóc tốt”. Hơn nữa, các cháu Hải B, sinh năm 2020 và cháu Thiên P, sinh năm 2021 đều còn nhỏ dưới 36 tháng tuổi cần thiết được mẹ trực tiếp chăm sóc nên việc giao con chung cho ông P nuôi dưỡng sẽ gây sự xáo trộn, ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của các cháu.
Từ những phân tích, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của ông Nguyễn Thanh P theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Bà Hồ Thị Vân Ph được quyền trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung Nguyễn Hải B, sinh ngày 04/9/2020 và Nguyễn Thanh P, sinh ngày 14/10/2021. Ông P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Ph không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã N về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và tại Phên tòa là đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, vị đại diện Viện kiểm sát có quan điểm cho rằng yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn là không có cơ sở chấp nhận và đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Quan điểm nói trên của vị đại diện Viện kiểm sát về đường lối giải quyết vụ án phù hợp với nhận định trên của Tòa án nên chấp nhận.
Về án phí: Ông Nguyễn Thanh P phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết án phí, lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 3 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh P về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn với bà Hồ Thị Vân Ph. Bà Hồ Thị Vân Ph được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng hai con chung tên Nguyễn Hải B, sinh ngày 04/9/2020 và Nguyễn Thanh P, sinh ngày 14/10/2021.
2. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Ph không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con chung. Ông P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
3. Về án phí: Ông Nguyễn Thanh P phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2021/0005132 ngày 06/10/2022 của Chi cục thi hành án Dân sự thị xã N.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND thị xã N; - THADS thị xã N; - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHÊN TÒA Phạm Huỳnh Tường Viên |