vanban.org

Bản án 09/2023/HNGĐ-ST — Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Thông tư 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thanh T về không công nhận quan hệ vợ chồng với bị đơn ông Trần… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thanh T và Trần Văn C"
  • Tòa quyết gì? Thông tư 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN C
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 27-01-2023
V/v “Tranh chấp ly hôn -
Không công nhận quan hệ vợ chồng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN C, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Trung Hiến

- Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Lê Thị Tuyết Mai

2/ Ông Nguyễn Thanh Tùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Anh - Thư ký Tòa án nhân dân quận C, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận C, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Trần Bảo Quốc - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận C, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 213/2022/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn – Không công nhận quan hệ vợ chồng”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Thanh T, sinh năm 1977 (Có yêu cầu giải quyết vắng mặt).

HKTT: khu vực 1, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ.

2. Bị đơn: Ông Trần Văn C, sinh năm 1968 (Có yêu cầu giải quyết vắng mặt).

HKTT: khu vực 1, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 24/8/2022 và quá trình giải quyết, nguyên đơn bà Lê Thanh T trình bày:

Nguyên trước đây vào năm 2000, bà và ông Trần Văn C chung sống như vợ chồng nhưng không có tổ chức đám cưới và cũng không có đăng ký kết hôn theo qui định của pháp luật. Bà T và ông C sống hạnh phúc được hơn 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, vợ chồng cự cải, không hợp nhau. Nhiều lần hàn gắn tình cảm nhưng không thành. Vì vậy, bà T khởi kiện yêu cầu:

+ Về quan hệ hôn nhân: Cho bà T được ly hôn với ông Trần Văn C (Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà T và ông C).

+ Về con chung: có 01 con chung Trần Nhật H (Nam); sinh ngày 14/12/2000. Con đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.

+ Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

+ Về nợ chung: Không có.

* Bò ñôn trình bày:

Ông C thống nhất với trình bày của bà T về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung.

Ông và T chung sống vào năm 2000 nhưng không có tổ chức đám cưới và cũng không có đăng ký kết hôn theo qui định của pháp luật. Sống hạnh phúc được hơn 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cải, mâu thuẫn về kinh tế. Ông và bà T đã ly thân hơn 02 năm nay. Trước yêu cầu khởi kiện của bà T thì ông C có ý kiến như sau:

+ Về quan hệ hôn nhân: Ông C đồng ý ly hôn với bà T (Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Trần Văn C và bà Lê Thanh T).

+ Về con chung: có 01 con chung Trần Nhật H (Nam); sinh ngày 14/12/2000. Con đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.

+ Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

+ Về nợ chung: Không có.

Vụ án được hòa giải nhưng không thành. Do đó, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa,

Nguyên đơn và bị đơn có đơn xin yêu cầu giải quyết vắng mặt và nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu khởi kiện. Bị đơn đồng ý với yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận C phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật; Người tham gia tố tụng đối với nguyên đơn và bị đơn có đơn xin yêu cầu giải quyết vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là phù hợp với quy định Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Từ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ nhận thấy mâu thuẫn giữa bà T và ông C đã thật sự nghiêm trọng, đời sống hôn nhân không đạt được, bà T và ông C không có đăng ký kết hôn theo qui định pháp luật. Do đó, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật: Bà T và ông C chung sống như vợ chồng vào năm 2000 nhưng không có tổ chức đám cưới cũng như không có đăng ký kết hôn, việc bà T và ông C chung sống là hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối, ép buộc. Quá trình chung sống, bà T và ông C phát sinh mâu thuẫn, bà T có đơn khởi kiện yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng với ông C nên quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp ly hôn”, tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận C theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt cho nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án (vắng mặt nguyên đơn và bị đơn) theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét quan hệ hôn nhân: Xét yêu cầu xin ly hôn của bà T, Hội đồng xét xử thấy rằng, bà T và ông C tuy tiến tới hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều kiện kết hôn nhưng hôn nhân của bà T và ông C được xác lập năm 2000 và cho đến nay không có đăng ký kết hôn là vi phạm quy định tại điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, do đó cần căn cứ quy định tại khoản 4 điều 3 Thông tư số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 để không công nhận quan hệ vợ chồng của bà T và ông C. Xét thấy, giữa bà T và ông C có thời gian chung sống hạnh phúc được khoảng 10 năm. Tuy nhiên, đến năm 2019 mâu thuẫn phát sinh, vợ chồng thường xuyên cự cãi, cả hai đã ly thân từ đó đến nay đã hơn 02 năm. Hiện tại, cả hai không muốn duy trì mối quan hệ sống chung. Ngoài ra, tại phiên làm việc thì ông C cũng đồng ý ly hôn với bà T, điều này chứng tỏ ông C cũng không tha thiết níu kéo mối hôn nhân này, do vậy bà T yêu cầu không công nhận mối quan hệ vợ chồng giữa bà với ông C là hoàn toàn phù hợp với quy định pháp luật nghĩ nên chấp nhận yêu cầu này của bà T, không công nhận mối quan hệ vợ chồng giữa bà với ông C.

Về con chung: có 01 con chung Trần Nhật H (Nam); sinh ngày 14/12/2000. Con đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu sau này có ai tranh chấp sẽ tách ra giải quyết thành vụ kiện khác.

Về nợ chung: Nguyên đơn và bị đơn khai không có. Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu sau này có ai tranh chấp sẽ tách ra giải quyết thành vụ kiện khác.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Đối với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

+ Về việc tuân thủ theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa cũng như đương sự là phù hợp với quy định của pháp luật.

+ Về nội dung giải quyết vụ án: Với những phân tích nêu trên về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên đề nghị của Kiểm sát viên về nội dung này là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 9, Điều 14 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Thông tư 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thanh T về không công nhận quan hệ vợ chồng với bị đơn ông Trần Văn C.

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Lê Thanh T và ông Trần Văn C.

2. Về con chung: có 01 con chung Trần Nhật H (Nam); sinh ngày 14/12/2000. Con đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.

3. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu sau này có ai tranh chấp sẽ tách ra giải quyết thành vụ kiện khác.

4. Về nợ chung: Nguyên đơn và bị đơn khai không có. Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu sau này có ai tranh chấp sẽ tách ra giải quyết thành vụ kiện khác.

5. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Lê Thanh T phải chịu 300.000 đồng. Chuyển tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp, theo biên lai thu số 0008815 ngày 09/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự quận C, thành phố Cần Thơ thành án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm phải chịu. Bà T đã nộp xong án phí.

6. Quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ