vanban.org

Bản án 09/2023/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Dung.

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Dung về việc yêu cầu bà Sang liên đới cùng bà L, ông Long trả 81.000.000 đồng tiền nợ hụi cho bà Dung. Về án phí:

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Hụi"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Dung.
  • Căn cứ chính? Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH Đ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2023/SD-ST
Ngày: 13/03 /2023
“V/v Tranh chấp nợ hụi”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH Đ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Triều;

2. Bà Cao Thị Bích Ngọc;

Thư ký phiên toà: Ông Phạm Văn Minh - Thư ký Toà án nhân dân huyện C.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Đ tham gia phiên tòa: Ông Trần Hữu Thọ, Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 03 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 219/2022/TLST-DS ngày 07 tháng 11 năm 2022 về việc “ Tranh chấp nợ hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2023/QĐXXST-DS, ngày 03 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Dung, sinh năm 1980;

Địa chỉ: ấp An Hòa, xã An Khánh, huyện C, tỉnh Đ.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1978;

Địa chỉ: Ấp An Hưng, xã An Khánh, huyện C, tỉnh Đ.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Trần Thanh Long, sinh năm 1974;

2. Bà Nguyễn Kim Sang, sinh năm 1952;

Cùng địa chỉ: Ấp An Hưng, xã An Khánh, huyện C, tỉnh Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các L khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Dung tr nh ày:

Vào tháng 01 năm 2018, bà Dung có tham gia chơi hụi do bà Nguyễn Thị L làm chủ hụi, khui hụi tại nhà bà Nguyễn Kim Sang (mẹ chồng bà L). Bà Dung tham gia các dây hụi như sau: Dây hụi mùa 3.000.000 đồng, hụi khui vào ngày 15/01/2018 âm lịch có 19 hụi viên, bà Dung tham gia 03 phần hụi. Dây hụi này bà Dung đã hốt 01 phần, bà L giao tiền hụi đầy đủ. Lần thứ hai bà Dung hốt hụi vào tháng 04 năm 2022 được 48.000.000 đồng nhưng bà L chỉ giao tiền hụi 15.000.000 đồng, còn nợ lại 33.000.000 đồng. Ngày 15/07/2022 âm lịch bà Dung tiếp tục hốt hụi lần thứ 3 nhưng bà L chưa giao tiền hụi.

Tại phiên tòa bà Dung xin rút lại một yêu cầu đối với bà Nguyễn Kim Sang không liên đới trả tiền nợ hụi cho bà Dung;

Nay bà Nguyễn Thị Dung yêu cầu bà Nguyễn Thị L, ông Trần Thanh Long liên đới trả số tiền hụi là 81.000.000 đồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn Nguyễn Thị L trình bày:

Bà Nguyễn Thị L nhà cùng sớm với bà Dung. Năm 2017, bà L làm chủ hụi, mở nhiều dây hụi, hiện đã mãn một số dây hụi, còn một số dây hụi chưa mãn. Hụi khui tại nhà bà Sang (mẹ chồng bà L), có mặt các hụi viên đi khui hụi đầy đủ. Ngày 15/8/2018, bà Dung tham gia dây hụi 3.000.000 đồng với 03 phần, bà Dung đã hốt hết hụi nhưng bà L chưa giao tiền hụi đầy đủ cho bà Dung. Hiện nay, dây hụi này đã mãn. Tại phiên tòa bà L đồng ý trả số tiền nợ hụi còn thiếu bà Dung là 81.000.000 đồng, bà L không yêu cầu ông Long liên đới trả nợ hụi cho bà Dung.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Trần Thanh Long trình bày:

Ông Trần Thanh Long là chồng bà L. Chúng tôi đã ly hôn từ tháng 8 năm 2022. Thời điểm bà L làm chủ hụi thì ông Long không rõ bao nhiêu dây hụi do đi làm từ sáng đến tối mới về. Ông Long biết bà L mở nhiều dây hụi nhưng không quan tâm đến nhưng lúc trước vở chồng chưa ly hôn ông Trần Thanh Long có đến nhà bà T lấy tiền hụi. Nay, bà Dung yêu cầu ông Long liên đới trả 81.000.000 đồng thì ông Long không đồng ý, do đã ly hôn với bà L.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Trần Kim Sang trình bày:

Bà Sang là mẹ chồng của bà L. Nhà bà L ở kế bên bà Sang không rõ bà L làm chủ hụi từ khi nào bà Sang không biết, bà Sang có khuyên nhưng bà L không nghe. Vào thời điểm đó, bà L khui hụi tại nhà, các hụi viên đến rất đông, lúc ít người đến khui hụi. Khi bà L bể hụi thì có một số hụi viên đến đòi nợ, bà Sang có nói nếu có đòi nợ thì vô nhà bà L mà đòi, bà không liên quan gì đến các dây hụi và cũng không sử dụng tiền hoa hồng từ các dây hụi do bà L làm chủ.

Tại phiên tòa bà Nguyễn Thị Dung xin rút lại một yêu cầu đối với bà Nguyễn Kim Sang, do đó bà Sang không yêu cầu gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C phát iểu về việc tuân thủ pháp luật tố tụng và nội dung giải quyết vụ án:

- Về tuân thủ pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Qua phát biểu tranh luận và trên cơ sở phân tích, đánh giá chứng cứ thể hiện trong hồ sơ, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Dung. Buộc bà L và ông Long liên đới trả cho bà Dung 81.000.000 đồng tiền nợ hụi.

Về án phí: Bà L và ông Long phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho bà Dung.

- Kiến nghị: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Căn cứ vào đơn khởi kiện, đối chiếu quy định của pháp luật tại khoản 3 Điều 26 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự; thì vụ án có quan hệ pháp luật tranh chấp nợ hụi. Bị đơn cư trú tại huyện C, tỉnh Đ, cho nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung, trên cơ sở trình bày của các đương sự và tài liệu chứng cứ đã thu thập thể hiện trong hồ sơ và qua tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy: Vào tháng 01 năm 2018, bà Dung có tham gia chơi hụi do bà L làm chủ hụi: Dây hụi mùa 3.000.000 đồng, hụi khui vào ngày 15/01/2018 âm lịch có 19 hụi viên, bà Dung tham gia 03 phần hụi. Dây hụi này bà Dung đã hốt 01 phần, bà L giao tiền hụi đầy đủ. Lần thứ hai bà Dung hốt hụi vào tháng 04 năm 2022 được 48.000.000 đồng nhưng bà L chỉ giao tiền hụi 15.000.000 đồng, còn nợ lại 33.000.000 đồng. Ngày 15/07/2022 âm lịch bà Dung tiếp tục hốt hụi lần thứ 3 nhưng bà L chưa giao tiền hụi.

Dây hụi này đã mãn, bà Dung yêu cầu bà L trả lại tiền hụi đã đóng. Tại phiên tòa bà L cũng thừa nhận hiện còn nợ tiền hụi của bà Dung là 81.000.000 đồng cũng đồng ý trả cho bà Dung.

Xét yêu cầu của bà Dung buộc ôngTrần Thanh Long liên đới cùng chị L trả 81.000.000 đồng thì hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Tại thời điểm bà Nguyễn Thị Dung tham gia chơi hụi vào tháng 01/2021 bà Nguyễn Thị L làm chủ hụi, ông Trần Thanh Long và bà L vẫn còn quan hệ vợ chồng hợp pháp do chưa ly hôn. Ông Long cùng bà L sống chung nhà, biết bà L làm chủ hụi có đi góp tiền hụi cho bà L. Bà L cho rằng số tiền hưởng huê hồng từ tiền hụi viên, bà L sử dụng cho cá nhân; Tại phiên tòa ông Long đã trình bày rằng tiền bà L kiếm được sử dụng sinh hoạt cho gia đình nuôi con ăn học và dùng tiền xây dựng nhà hiện đang ở; Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 27 và khoản 3 Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình. Vì vậy, có đủ cơ sở xác định việc bà L làm chủ hụi là để có thêm thu nhập chăm lo phục vụ cho các nhu cầu thiết yếu của gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Dung, buộc bà L, ông Long cùng có trách nhiệm liên đới trả số tiền nợ hụi 81.000.000 đồng cho bà Dung là có căn cứ.

Qua xác minh, thu thập chứng cứ; Hội đồng xét xử nhận thấy bà L làm chủ hụi, bà Sang không tham gia góp hụi cũng không sử dụng số tiền hoa hồng từ hụi. Thời điểm, bà Sang cho vợ chồng bà L ở riêng cạnh bên nhà của bà Sang. Tại phiên Tòa, bà L tự nguyện rút một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu bà Sang cùng liên đới trả nợ cùng bà L, ông Long nên hội đồng xét xử đình chỉ một phần yêu cầu này của bà Dung.

Do, bà Dung không yêu cầu trả lãi chậm thanh toán, có lợi cho bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

[2.2] . Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, buộc bà L, ông Long phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật;

[2.3]. Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C là có căn cứ nên, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 357, Điều 471 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 18 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/2/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; Điều 27 và Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Dung. Buộc bà Nguyễn Thị L, ông Trần Thanh Long liên đới trả cho bà Dung 81.000.000 đồng tiền nợ hụi (Tám mươi mốt triệu đồng);

2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Dung về việc yêu cầu bà Sang liên đới cùng bà L, ông Long trả 81.000.000 đồng tiền nợ hụi cho bà Dung.

3. Về án phí:

Buộc bà Nguyễn Thị L và ông Trần Thanh Long liên đới nộp 4.050.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị Dung tiền tạm ứng án phí là 2.025.000 đồng theo biên lai thu số 0013491 ngày 07/11/2022 tại Chi cục thi hành dân sự huyện C, Đ.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ