vanban.org

Bản án 09/2023/BAST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm b mục I Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc Hội khóa X về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình;

Về hôn nhân: Không công nhận Ông Phạm Bá C và bà Vi Thị C là vợ chồng. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phạm Bá C phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, được đối trừ vào khoản tiền ông đã nộp tạm ứng án phí, theo biên lai thu tiền số: AA/2021/0012870, ngày 19/4/202… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Bá Chinh và Vi Thị Cung"
  • Tòa quyết gì? Điểm b mục I Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc Hội khóa X về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình;
  • Căn cứ chính? Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Q
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 15/08/2023
V/v: Không công nhận quan hệ
vợ chồng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Q , TỈNH THANH HÓA

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Thanh

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Vi Ngọc Trung

2. Bà: Lương Thị Diện

- Thư ký toà án ghi biên bản: Ông Nguyễn Trọng Tiến - Thư ký Toà án nhân dân huyện Q , tỉnh Thanh Hóa

Ngày 15 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Q , tỉnh Thanh Hoá, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 35/2023/TLST- HNGĐ, ngày 24/4/2023 về việc “Không công nhận quan hệ vợ chồng”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/6/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2023/QĐST-HNGĐ ngày 20/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Q , giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Phạm Bá C - Sinh năm 1966

2. Bị đơn: Bà Vi Thị C - Sinh năm 1965

Đều có địa chỉ: Khu 4, thị trấn H , huyện Q , Thanh Hoá.

Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 11/4/2023; bản tự khai đề ngày 18/4/2023; Biên bản hòa giải ngày 13/6/2023 và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn Phạm Bá C trình bày:

Về hôn nhân: Ông và bà Vi Thị C tự tìm hiểu, không bị ai ép buộc, được hai bên gia đình ủng hộ tổ chức cưới hỏi theo phong tục, tập quán địa phương năm 1988, không đăng ký kết hôn và sống với nhau hòa thuận, hạnh phúc thời gian đầu. Tuy nhiên trong quá trình sống chung, hai vợ chồng không còn hoà hợp đã lâu, nhưng vì con, vì cháu, vì giữ thể diện cho gia đình nên cố gắng sống cùng bà Cung. Sau đó không chịu được vì sự phàn nàn, hằn học, trái tính, của bà C , ông đã chọn phương án ra ở riêng một mình từ năm 2022 và hiện tại cũng đang ở một mình. Gia đình hai bên nội, ngoại biết được tình hình cũng đã động viên hàn gắn, tuy nhiên bản thân không thể cố gắng được nữa, ông mong muốn được giải thoát khỏi cuộc hôn nhân này, để được sống cuộc sống của riêng mình. Ông mong Toà án nhân dân huyện Quan Hoá xem xét giải quyết cho ông và bà C được ly hôn.

Về con chung: Trong thời gian chung sống với nhau có hai con chung là Phạm Bá H sinh năm 1989 và Phạm Bá H sinh năm 1998, hiện tại cháu H đã có gia đình và sinh con, tuy nhiên gia đình 3 thế hệ vẫn sống chung một mái nhà cho đến khi tôi sống ly thân. Cháu H chưa xây dựng gia đình nhưng cháu đã trên 18 tuổi và biết tự lao động kiếm sống nên tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi con. Ông cam đoan, ngoài con chung kể trên, ông, bà không có con chung nào. Hiện tại ông, bà đều khỏe mạnh, không ốm đau, không bệnh hiểm nghèo.

Về Tài sản chung, nợ nần chung: Ông, bà tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Ông C tự nguyện chịu nộp toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật.

* Tại bản tự khai ngày 22/5/2023; biên bản hòa giải ngày 23/6/2023 Bà Vi Thị Cung trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông C về sống chung với nhau hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc, không ai ép buộc ai và không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Bà đồng ý như lời trình bầy của ông C về hôn nhân, nguyên nhân mâu thuẫn, theo bà, hai vợ chồng không có mâu thuẫn gì lớn, là do ông C đi ngoại tình với người phụ nữ khác nhưng bà vẫn tha thứ, bản thân bà muốn ông về đoàn tụ. Bà không đồng ý ly hôn ông C .

Về con chung: Bà đồng ý như ông C trình bày, hai con đã lớn, cháu Hải đã có gia đình riêng, cháu H đã trên 18 tuổi và biết tự lao động kiếm tiền nuôi sống bản thân nên bà không yêu cầu giải quyết việc nuôi con chung.

Về tài sản, nợ nần chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Bà nhất trí ý kiến của ông C .

Bà cam đoan, ngoài con chung kể trên, ông, bà không có con chung nào. Hiện tại sức khỏe bà rất tốt, không ốm đau, không có bệnh hiểm nghèo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng: Căn cứ Điều 28, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình. Xét thấy, ông Phạm Bá C và bà Vi Thị C đều có địa chỉ tại: Khu 4, thị trấn H , huyện Q , nên Tòa án nhân dân huyện Q thuộc thẩm quyền giải quyết vụ án này.

. Về quan hệ tranh chấp: Theo quy định tại khoản 7 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là “Tranh chấp về Hôn nhân và Gia đình của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn”. Căn cứ Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự, thì ông Phạm Bá C là nguyên đơn, bà Vi Thị C là bị đơn.

. Việc chấp hành pháp luật của Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa, người tiến hành luôn tiến hành đầy đủ các bước theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, gồm: Thông báo thụ lý vụ án; triệu tập ghi lời khai; xác minh tình trạng hôn nhân thực tế; kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải... theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và đã tống đạt đầy đủ, đúng thời gian các thủ tục tố tụng cho người tham gia tố tụng. Các đương sự luôn chấp hành tốt quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình giải quyết vụ án; Tại phiên tòa, bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các Quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 BLTTDS, Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn Vi Thị C .

. Về Hôn nhân: Ông Phạm Bá C và bà Vi Thị C được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới vào năm 1988, theo phong tục tập quán địa phương, đến nay đã đủ điều kiện đăng ký kết hôn, nhưng ông, bà vẫn không đăng ký kết hôn theo luật định. Theo quy định tại khoản 1 Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì “Quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập trước ngày Luật này có hiệu lực thì áp dụng Luật về Hôn nhân và Gia đình tại thời điểm xác lập để giải quyết”.

Như vậy, tại thời điểm xác lập quan hệ chung sống như vợ chồng giữa ông C và bà C thì pháp luật được áp dụng để giải quyết là Luật Hôn nhân Gia đình năm 1986 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Việc Ông C và bà C chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1988, đến nay vẫn không đăng ký kết hôn là đã không tuân thủ quy định tại Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, nay là Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 quy định: “Việc kết hôn do Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi thường trú của một trong hai người kết hôn công nhận và ghi vào sổ kết hôn theo nghi thức do Nhà nước quy định...

Mọi nghi thức kết hôn khác đều không có giá trị pháp lý”.

Đối chiếu với quy định pháp luật thấy rằng: Tại điểm b mục 1 Nghị quyết 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội khóa X về việc thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: “Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001, mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật này thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày luật này có hiệu luật cho đến ngày 01/01/2003; trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn, nhưng có yêu cầu ly hôn thì Tòa án áp dụng các quy định về ly hôn của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 để giải quyết. Từ sau ngày 01/01/2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng”.

Vì vậy, Ông Phạm Bá C và bà Vi Thị C phải đi đăng ký kết hôn theo quy định, nhưng cho đến nay vẫn chưa đăng ký kết hôn, thể hiện ý thức chấp hành pháp luật chưa nghiêm túc.

Hơn nữa, theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, thì: Tại khoản 1 Điều 14 quy định: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng…..”

Khoản 2 Điều 53 quy định: “Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này….”

Do vậy, quan hệ chung sống như vợ chồng giữa Ông Phạm Bá C và bà Vi Thị C phải được giải quyết bằng bản án, tuyên ông bà không phải là vợ chồng.

. Về con chung: Trong thời gian chung sống với nhau, ông, bà có hai con chung là Phạm Bá H sinh năm 1989 và Phạm Bá H sinh năm 1998, hiện tại cháu H đã có gia đình riêng, cháu H đã trên 18 tuổi, biết tự lao động kiếm sống, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi con. Vì vậy HĐXX không xem xét.

. Về tài sản chung, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu, nên HĐXX không xem xét.

. Về án phí và quyền kháng cáo, kháng nghị: Ông Phạm Bá C tự nguyện nộp án phí HNGĐ sơ thẩm theo quy định. Các đương sự có quyền kháng cáo; Viện kiểm sát có quyền kháng nghị bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 48; Điều 68; Khoản 4 Điều 147; Điều 266; Điều 267; Điều 273; Điều 278 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 147, Điều 148, Điều 278, Điều 282 và Điều 372 Bộ luật Dân sự;

Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986;

Điều 9; Điều 11; Điều 14; Điều 53 luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Điểm b mục I Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc Hội khóa X về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình;

Khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Không công nhận Ông Phạm Bá C và bà Vi Thị C là vợ chồng.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phạm Bá C phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, được đối trừ vào khoản tiền ông đã nộp tạm ứng án phí, theo biên lai thu tiền số: AA/2021/0012870, ngày 19/4/2023 của chi cục Thi hành án dân sự huyện Q , tỉnh Thanh Hóa. Ông C đã thi hành xong tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc được niêm yết. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ