- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ hành cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn L phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 191 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y - TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2022/HSST Ngày 25/02/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y - TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Lực.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hà Giang và ông Lê Thanh Thu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Việt Phúc, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y tham gia phiên tòa: Ông Phạm Xuân Đình, Kiểm sát viên.
Ngày 25/02/2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Ninh Bình; xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 02/2022/TLST-HS ngày 12/01/2022, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2022/QĐXXST-HS ngày 17/01/2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 01/2022/HSST-QĐ ngày 28/01/2022 đối với bị cáo:
Phạm Văn L sinh năm 1984; tại xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú xóm 6, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hóa 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; con ông Phạm Văn B và bà Bùi Thị T; vợ Nguyễn Thị H và có 02 con lớn nhất 15 tuổi nhỏ nhất 11 tuổi; tiền án không; tiền sự không; bị cáo bị tạm giữ 05 ngày từ ngày 13/12/2021 đến ngày 17/12/2021, hiện đang bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
Người có quyền, nghĩa vụ liên quan: Vợ chồng anh Phạm Văn H sinh năm 1985 chị Mai Thị K sinh năm 1986; nơi cư trú xóm 6, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 13/12/2021 L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 35N4-8465 đến đường quốc lộ 10 thuộc địa phận xóm 7, xã K gặp và mua của một người không quen biết 20 hộp pháo hoa nổ, loại 49 quả trong một hộp, được đựng trong 02 thùng catton, mỗi thùng có 10 hộp pháo với giá 2.900.000 đồng, mục đích để đốt trong dịp Tết nguyên đán. Sau đó L mang 02 thùng pháo về nhà L cất giấu tại phòng để đồ. Khoảng 13 giờ L sử dụng xe mô tô chở 01 thùng catton bên trong có 10 hộp pháo mang đến nhà anh H chị K cùng ở xóm 6, xã K; L nói với anh H cho L gửi nhờ thùng hoa quả, đến chiều sẽ gửi ô tô mang vào tỉnh Gai Lai. Anh H đồng ý, L mang thùng catton pháo để vào trong bếp nhà anh H rồi đi về. Hồi 16 giờ 15 phút cùng ngày tổ công tác của Công an huyện Y cùng với Công an xã K đến nhà triệu tập L để xác minh làm rõ nội dung đơn tố giác của công dân đối với L. Khi thấy lực lượng Công an, do sợ hành vi cất giấu pháo bị phát hiện, L đã tự thú về hành vi cất giấu 10 hộp pháo của L ở tại nhà anh H, sau đó L dẫn tổ công tác đến nhà anh H lấy thùng pháo L đã gửi trước đó và giao nộp cho Công an. Tổ công tác đã lập biên bản người phạm tội ra tự thú và thu giữ 01 thùng catton bên trong có 10 hộp pháo tiến hành niêm phong 10 hộp pháo ký hiệu từ M 1 đến M10. Khám xét nơi ở của L tại xóm 6, xã K; thu giữ 01 thùng catton bên trong có 10 hộp pháo, tiến hành niêm phong ký hiệu từ M11 đến M20.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã gửi toàn bộ số pháo thu giữ của L để trưng cầu giám định. Kết luận giám định số 12/KLGĐ-PC09-ChN ngày 17/12/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: 20 khối hình hộp chữ nhật bọc giấy ký hiệu từ M1 đến M20 gửi giám định đều là pháo, loại pháo nổ (còn được gọi là pháo hoa nổ); tổng khối lượng của 20 hộp pháo nổ ký hiệu từ M1 đến M20 là 36,297 kg.
Cáo trạng số 06/CT-VKSYK ngày 12/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố bị cáo L về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố trình bày luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo L như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo L phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
- Căn cứ điểm c khoản 1 và khoản 4 Điều 191; các điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo L từ 18 tháng đến 21 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 36 tháng đến 42 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án. Phạt bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng. Giao bị cáo L cho UBND xã K, giám sát giáo dục trong thời gian thử thách của án treo, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.
- Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy Tịch thu tiêu hủy 02 thùng bìa carton bên trong có 20 hộp pháo hoa nổ khối lượng là 35,452 kg; 02 thùng catton.
Bị cáo L khai, L mua 02 thùng pháo về để đốt trong dịp tết, L mang 01 thùng Pháo đến gửi ở nhà anh H và nói dối anh H là thùng hoa quả; khi Công an đến, L đã tự thú và giao nộp pháo cho Công an. Nói lời sau cùng bị cáo trình bày rất ăn năn hối cải về hành vi của mình, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người liên quan đều không có ý kiến hoặc khiếu nại gì; nên các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng pháp luật. Tại phiên tòa Kiểm sát viên đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người liên quan; phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án về thời gian, hành vi của bị cáo, vật chứng đã thu giữ, nên có đủ cơ sở khẳng định:
Hồi 16 giờ 15 phút ngày 13/12/2021 tổ công tác của Công an huyện Y cùng đến nhà triệu tập L để xác minh làm rõ nội dung đơn tố cáo của công dân đối với L. Khi thấy lực lượng Công an, L đã tự thú về hành vi cất giấu 10 hộp pháo của L ở tại nhà anh H, sau đó L dẫn tổ công tác đến nhà anh H lấy 01 thùng catton bên trong có 10 pháo L đã gửi trước đó và giao nộp cho Công an. Khám xét nơi ở của L thu giữ 01 thùng catton bên trong có 10 hộp pháo. Theo Kết luận giám định 20 khối hình hộp chữ nhật bọc giấy gửi giám định ký hiệu từ M1 đến M20 đều là pháo loại pháo nổ (còn được gọi là pháo hoa nổ); tổng khối lượng của pháo hoa nổ ký hiệu từ M1 đến M20 là 36,297 kg.
Điều 191 của Bộ luật Hình sự về “Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm”.
1. Người nào tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 239, 244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
.....
c) Pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam;
Hành vi cất giấu 36,297 kg pháo hoa nổ của bị cáo L là trái pháp luật, đã xâm phạm đến sự quản lý của Nhà nước về pháo nổ; hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.
Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố bị cáo L về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo L không có tình tiết tăng nặng. Về giảm nhẹ “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo tự thú; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo quy định tại các điểm i, r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Từ những phân tích nêu trên, thấy rằng:
- Với khối lượng pháo mà bị cáo tàng trữ, cần phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, mới có đủ điều kiện để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Bị cáo L có 3 tình tiết giảm nhẹ, nên Hội đồng có giảm nhẹ một phần về hình phạt cho bị cáo.
- Căn cứ vào nhân thân của bị cáo, vào các tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo; đề nghị của Viện kiểm sát và lời nói sau cùng của các bị cáo; Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo L có 03 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo L có nhân thân tốt, đã thể hiện rõ được sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, nên không cần phải bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù, căn cứ khoản 1 Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng đủ điều kiện để giáo dục bị cáo.
- Phạt bổ sung đối với bị cáo L là 12.000.000 đồng.
Về biên pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Vật chứng đã thu giữ gồm “02 thùng bìa carton pháo nổ khối lượng là 36,297 kg”. Đối với 36,297 kg pháo, sau giám định Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình chỉ hoàn lại 35,452 kg pháo và các thùng bìa carton thì tịch thu tiêu hủy.
Trong vụ án này, vợ chồng anh H chị K đã cho L gửi pháo, nhưng vợ chồng anh H chị K không biết là pháo nên hành vi của vợ chồng anh H chị K không có dấu hiệu tội phạm.
Về án phí: Bị cáo L bị kết án, nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn L phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
2. Căn cứ điểm c khoản 1 và khoản 4 Điều 191; các điểm i, r, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Phạm Văn L 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án 25/02/2022. Phạt bổ sung 12.000.000 đồng (mười hai triệu đồng).
Giao bị cáo Phạm Văn L cho UBND xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo; gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo L thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, bị cáo L cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 02 thùng bìa carton niêm phong có đóng dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình, bên trong 02 thùng catton có 20 hộp pháo hoa nổ khối lượng là 35,452 kg; 01 thùng catton màu nâu thùng được dán bằng băng dính màu vàng; 01 thùng catton màu nâu được bọc ngoài bằng túi nilon màu trắng và băng dính màu vàng, màu trắng. Vật chứng có đặc điểm tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/01/2022 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Y với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Y.
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Phạm Văn L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền, nghĩa vụ liên quan là vợ chồng anh H chị K có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Đều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình - VKSND tỉnh Ninh Bình - VKSND huyện Y - Bị cáo, - Người liên quan - Chi cục THA - Công an huyện Y - L hồ sơ | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Bùi Văn Lực |