vanban.org

Bản án 09/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định Tuyên án 09/02/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Huỳnh Thanh N và Nguyễn Hoàng D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về bồi thường thiệt hại: Các bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường gì thêm nên miễn xét. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, tuyên: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HUỲNH THANH N VÀ NGUYỄN HOÀNG D TRỘM CẮP TÀI SẢN - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Huỳnh Thanh N và Nguyễn Hoàng D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂY SƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2022/HSST
Ngày: 09-02-2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

ơ

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Triều.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Ngô Văn Nghị.

2. Ông Bùi Đức Thuận.

- Thư ký phiên t a: Ông Đoàn Nhữ Thật - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn.

- Đ i di n VKSND huy n Tây Sơn, t nh Bình Đ nh tham gia phiên t a: Bà Lê Thị Kim Chi – Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 02 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2021/TLST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2021/QĐXXST-HS ngày 23/12/2021 đối với các bị cáo:

1. Huỳnh Thanh N (tên gọi khác: T), sinh năm 1998 tại huyện V, tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện V, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Sửa xe máy; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không, quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Thanh B sinh năm 1958, con bà Trương Thị H sinh năm 1960; anh, chị, em: Có 06 người, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình; vợ, con: Chưa; tiền án: Ngày 04/06/2020, Huỳnh Thanh N bị Tòa án nhân dân Quận K, TP. Đà Nẵng xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Chấp hành xong bản án ngày 07/02/2021 (chưa xóa án tích); tiền sự: Chưa; nhân thân: Ngày 03/08/2021 có hành vi trộm cắp tài sản, ngày 13/09/2021 bị Công an xã Yang Bắc, huyện ĐăkPơ, tỉnh Gia Lai xử phạt hành chính số tiền 1.500.000đ. Đã chấp hành nộp phạt vào 21/09/2021. Phạm tội, bị bắt khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 25/08/2021, đến ngày 28/08/2021, bị Cơ quan CSĐT – Công an huyện Tây Sơn khởi tố bị can về tội “Trộm cắp tài sản” và áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam cho đến nay. Có mặt.

2. Nguyễn Hoàng D (tên gọi khác: D1), sinh năm 1987 tại thành phố PleiKu, tỉnh Gia Lai; nơi cư trú: Thôn H, xã C, huyện ĐăkPơ, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không, quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc A sinh năm 1961, con bà Hoàng Thị Kim D sinh năm 1962; anh, chị, em: Có 06 người, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; vợ: Văn Thị H (sinh năm 1992), con: Nguyễn Hoàng Khánh L (sinh năm 2006) hiện ở ĐăkPơ - Gia Lai; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 17/03/2005, bị Tòa án nhân dân huyện Đăk pơ, Gia Lai xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 tại bản án số: 05/HSST, chấp hành xong bản án ngày 07/12/2005; ngày 26/9/2007, bị Tòa án thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai xử phạt 09 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 140 BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009, tại bản án số: 34/HSST, chấp hành xong bản án ngày 23/04/2008; ngày 01/07/2010, bị Tòa án thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai xử phạt 30 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” với tình tiết “tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm e khoản 2 Điều 245 BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 tại bản án số: 27/HSST,chấp hành xong bản án ngày 25/06/2012; ngày 04/12/2017, bị Tòa án thành phố PleiKu, tỉnh Gia Lai quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội tỉnh Gia Lai, thời hạn 24 tháng, chấp hành xong ngày 16/6/2021; ngày 20/09/2021, bị cơ quan CSĐT Công an huyện Kbang khởi tố bị can về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS. Phạm tội, ngày 09/09/2021, bị Cơ quan CSĐT – Công an huyện Tây Sơn khởi tố bị can về tội “Trộm cắp tài sản” và áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Thanh Nc: Ông Nguyễn Ngọc Quốc L – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bình Định. Có mặt.

- Người bị hại:

+ Huỳnh Thế V, sinh năm 1986;

Địa chỉ: Thôn 1, xã B, huyện S, tỉnh Bình Định. Vắng mặt.

+ Nguyễn Thị T, sinh năm 1989;

Địa chỉ: Thôn 1, xã B, huyện S, tỉnh Bình Định. Vắng mặt.

+ Hồ Thị Q, sinh năm 1981;

Địa chỉ: Thôn S, xã T, huyện S, tỉnh Bình Định. Vắng mặt.

+ Phạm Văn Dg, sinh năm 1975;

Địa chỉ: Thôn S, xã T, huyện S, tỉnh Bình Định. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Nguyễn Văn L, sinh năm 1980;

Địa chỉ: Thôn Q, xã P, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

+ Trần Minh N, sinh năm 1982;

Địa chỉ: Thôn Hóa xã C, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Vắng mặt.

+ Hồ Việt C, sinh năm 1990;

Địa chỉ: Thôn Q, xã P, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Vắng mặt.

+ Đoàn Hữu Đ, sinh năm 1971;

Địa chỉ: M, thị trấn P, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Vắng mặt.

+ Nguyễn Hoàng D, sinh năm 2002;

Địa chỉ: Thôn N, xã V, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 20/8/2021, Huỳnh Thanh N (SN:1989) ở H, Vĩnh T, Vĩnh Thạnh, Bình Định điều khiển xe WAVE 77N1- 07775 lên Đăkpơ – Gia Lai để mua ma túy. Trên đường đi, phát hiện tiệm sửa xe mô tô của anh Phạm Văn D (SN: 1975) ở Thượng Sơn - Tây Thuận - Tây Sơn – Bình Định để nhiều lốp xe mô tô chưa qua sử dụng, không có người, N nảy sinh ý định lấy trộm lốp xe đem bán lấy tiền tiêu xài. N dựng xe trước tiệm và lén lấy 05 lốp xe hiệu kenda 250 choàng vào người và điều khiển xe đi về hướng thị trấn Phú Phong tìm nơi tiêu thụ. Trên đường đi, N vào tiệm sửa xe máy ven đường (không xác định được địa chỉ cụ thể) bán với giá 470.000đ, sau đó Nhạc tiếp tục điều khiển xe đi lên Đăkpơ – Gia Lai để mua ma túy.

Khoảng 18 giờ cùng ngày, do không mua được ma túy nên N gọi điện cho Nguyễn Hoàng D (sinh năm: 1987) ở H, C, Đăkpơ là đối tượng thường sử dụng ma túy để hỏi chỗ bán ma túy. Lúc này, D đang ngồi uống nước tại quán gần ngã ba Chí Công - Đăkpơ - Gia Lai, N đến gặp D và rủ đi Quy Nhơn mua ma túy. N chở D đi về hướng Quy Nhơn, khoảng 19h30 cùng ngày đến Đoạn quốc lộ 19, thuộc thôn 1 - Bình Nghi, thấy tiệm vá lốp xe của anh Huỳnh Thế V (sinh năm: 1986) để lốp xe ô tô nên cả hai rủ nhau lấy trộm. N dựng xe mô tô bên lô đất trống gần đó, D đứng tại vị trí xe mô tô, N vào lấy 01 lốp xe ô tô mang ra bỏ phía trước gác ma ga xe, D vào lấy tiếp 01 lốp xe cùng loại mang ra vị trí xe mô tô. Sau đó, N điều khiển chở D ngồi sau ôm lốp xe ô tô vừa chiếm đoạt đi về hướng Quy Nhơn tìm nơi tiêu thụ. Khi đến đoạn quốc lộ 1A, thuộc Tuy Phước, cách cầu Bà Di khoảng 3km, thấy tiệm bán mâm lốp xe của anh Nguyễn Văn L (sinh năm: 1980) ở Quảng Tín, Phước Lộc, Tuy Phước, N chở D vào gặp anh Trần Minh N (sinh năm: 1982) ở Cát Hanh, Phù Cát, Bình Định là người làm công cho anh L gạ bán 02 lốp xe trên, N nói của gia đình, do kẹt tiền nên bán. N vào gọi anh L ra mua. L hỏi, D nói: do covid xe không đi được nên bán. Nghi ngờ về nguồn gốc tài sản nên anh L gọi cho các tiệm bán lốp xe ô tô gần đó hỏi có ai mất tài sản không nhưng không có ai mất tài sản nên L tin tưởng và đồng ý mua với giá 04 triệu đồng và đưa tiền cho D, D đưa lại cho N. Sau đó, cả hai đi về hướng Quy Nhơn để tìm mua ma túy nhưng không có nên N chia cho D 02 triệu đồng và chở Dh về đến nhà xong, N đi về nhà và đã tiêu xài cá nhân hết.

Kết quả định giá ngày 26/8/2021 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Tây Sơn: 02 lốp xe ô tô tải hiệu Maxxis, thông số 8.25 R16LT 18 PR MA 265, màu đen, chưa qua sử dụng, trị giá 7.900.000 đồng.

Kết quả định giá ngày 27/9/2021 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Tây Sơn: 05 lốp xe mô tô, nhãn hiệu Kenda 250 chưa qua sử dụng, trị giá 900.000đ.

Vật chứng thu giữ gồm:

+ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại WAVEα, biển số 77N1-077.75, màu sơn: xám- xanh, không bửng và không có gương chiếu hậu, số khung RLHJA3914KY083113, số máy: JA39E-0939528, đã qua sử dụng, không kiểm tra bên trong.

+ 01(một) mũ bảo hiểm màu xanh dương, đỉnh mũ và viền mũ có màu xanh đậm, trên mũ có dán chữ “Vietinbank”; 01 (một) mũ vải tròn vành màu đen, trên mũ có in nhiều chữ “Buffalo” và hình con trâu; 01 (một) áo khoác vải màu đen có mãu trùm đầu, không có nhãn hiệu; 01 (một) áo thun dài tay màu đen, ngực áo có in chữ “LeBanz”; 01 quần tây màu xám, không có ghi nhãn hiệu , đã qua sử dụng.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 26/11/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn).

Riêng đối với 02 (hai) lốp xe ô tô tải hiệu Maxxis MA 265; 8.25 R16LT 18 PR 134/129k, màu đen, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Tây Sơn đã trả lại cho chủ sở hữu.

Tại phiên tòa: Các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tôi nêu trên.

Về dân sự: Các bi hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu bồi thường gì.

Bản cáo trạng số 54/CT-VKSTS ngày 23/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn truy tố các bị cáo Huỳnh Thanh N và Nguyễn Hoàng D về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên các bị cáo Huỳnh Thanh N và Nguyễn Hoàng D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

+Về hình phạt:

Đối với bị cáo Huỳnh Thanh N: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo N mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù.

Đối với bị cáo Nguyễn Hoàng D: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo D mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù.

+ Về bồi thường thiệt hại: Các bi hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu bồi thường gì nên miễn xét.

+ Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, đề nghị:

Tịch thu, sung công quỹ nhà nước 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại WAVEα, biển số 77N1- 077.75, màu sơn: xám- xanh, không bửng và không có gương chiếu hậu, số khung RLHJA3914KY083113, số máy : JA39E-0939528, đã qua sử dụng, không kiểm tra bên trong.

Tịch thu, tiêu hủy 01(một) mũ bảo hiểm màu xanh dương, đỉnh mũ và viền mũ có màu xanh đậm, trên mũ có dán chữ “Vietinbank”; 01 (một) mũ vải tròn vành màu đen, trên mũ có in nhiều chữ “Buffalo” và hình con trâu; 01 (một) áo khoác vải màu đen có mũ trùm đầu, không có nhãn hiệu; 01 (một) áo thun dài tay màu đen, ngực áo có in chữ “LeBanz”; 01 quần tây màu xám, không có ghi nhãn hiệu, đã qua sử dụng, vì không có giá trị

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 26/11/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn).

Ngƣời bào chữa cho bị cáo Huỳnh Thanh N là ông Nguyễn Ngọc Quốc L trình bày:

Thống nhất tội danh mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo Huỳnh Thanh N phạm tội “ Trộm cắp tài sản”. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là hộ nghèo, bị cáo được bị hại làm đơn bãi nại về dân sự và xin giảm nhẹ hành phạt. Với những tình tiết giảm nhẹ nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 mức hình phạt cho bị cáo Huỳnh Thanh N là 15 tháng tù.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Đồng ý với Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tây Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trên cơ sở lời khai nhận tội của các bị cáo; lời khai của người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, được xác định:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 20/8/2021, tại Thôn 1, xã Bình Nghi, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định, lợi dụng sơ hở của gia đình anh Huỳnh Thế V (là chủ tiệm vá lốp xe tại địa bàn trên) trong việc quản lý tài sản (cụ thể là lốp xe ô tô), các bị cáo Huỳnh Thanh N và Nguyễn Hoàng D đã lén lút chiếm đoạt 02 lốp xe ô tô, trị giá 7.900.000 đồng của gia đình anh Huỳnh Thế V. Các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý; do đó các bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như sau: “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm…”

Ngoài ra, Huỳnh Thanh N còn có hành vi lén lút chiếm đoạt 05 lốp xe mô tô của gia đình anh Nguyễn Hoàng D, trị giá 900.000 đồng, bị cáo N đã khắc phục bồi thường xong và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt.

Đối với anh Nguyễn Văn L có hành vi mua lốp xe do bị cáo Huỳnh Văn N và Nguyễn Hoàng D bán nhưng không biết do tài sản trộm cắp mà có nên không có căn cứ xử lý anh Lưu về hành vi “ Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại Điều 323 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã nêu, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Huỳnh Thanh N và Nguyễn Hoàng D đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn truy tố là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét hành vi của các bị các cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác một cách trái pháp luật mà còn gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân trên địa bàn; hơn nữa cả hai bị cáo đã từng có tiền án và nhân thân không tốt, do vậy cần phải xử lý nghiêm khắc bằng pháp luật hình sự. Các bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực và nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là trái pháp luật, là xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ nhưng vì lòng tham nên các bị cáo đã lén lút chiếm đoạt 02 lốp xe ô tô, trị giá 7.900.000 đồng của gia đình anh Huỳnh Thế V. Do đó, cần xử phạt bị cáo N và bị cáo D một mức án thật nghiêm khắc của khung hình phạt mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Vai trò của các bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn. Vì thấy tiệm vá lốp xe của gia đình bị hại Huỳnh Thế V sơ hở trong việc quản lý tài sản (lốp xe ô tô) nên cả hai rủ nhau lấy trộm và cùng trực tiếp thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, số tiền bán được tài sản cả hai cùng chia bằng nhau và tiêu xài cá nhân. Ngoài ra, bị cáo Huỳnh Thanh N còn có hành vi lén lút chiếm đoạt 05 lốp xe mô tô của gia đình anh Nguyễn Hoàng D, trị giá 900.000 đồng và bị cáo đã có tiền án chưa được xóa án tích. Vì vậy cần xử phạt bị cáo Nhạc mức án cao hơn bị cáo D là phù hợp với quy đinh pháp luật.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

+ Đối với bị cáo Huỳnh Thanh N: Bị cáo có nhân thân xấu. Đã có tiền án chưa được xóa án tích nhưng lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Vì vậy, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

+ Đối với bị cáo D: Bị cáo có nhân thân xấu. Ngày 20/9/2021, bị cơ quan CSĐT Công an huyện Kbang khởi tố bị can về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; các bị cáo được các bị hại làm đơn bãi nại và xin không truy cứu trách nhiệm hình sự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo N thuộc hô nghèo là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuy nhiên, các bị cáo bị xét xử nhiều lần về các tội xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác và tội phạm khác. Sau khi chấp hành án xong lẽ ra các bị cáo phải là người tiến bộ, từ bỏ việc phạm tội, ăn năng hối cải nhưng các bị cáo vẫn không chịu làm ăn lương thiện, tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội chiếm đoạt tài sản của người khác để phục vụ cho lợi ích cá nhân mình. Do đó, cần xử phạt các bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về bồi thường thiệt hại: Các bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường gì thêm nên miễn xét.

Đối với anh Nguyễn Văn L có hành vi mua lốp xe do bị cáo N và D bán nhưng không biết tài sản do trộm cắp mà có nên không có căn cứ xử lý anh L về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại Điều 323 BLHS.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, đề nghị:

+Tịch thu, sung công quỹ nhà nước 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại WAVEα, biển số 77N1- 077.75, màu sơn: xám- xanh, không bửng và không có gương chiếu hậu, số khung RLHJA3914KY083113, số máy : JA39E-0939528, đã qua sử dụng, không kiểm tra bên trong.

+Tịch thu, tiêu hủy 01(một) mũ bảo hiểm màu xanh dương, đỉnh mũ và viền mũ có màu xanh đậm, trên mũ có dán chữ “Vietinbank”; 01 (một) mũ vải tròn vành màu đen, trên mũ có in nhiều chữ “Buffalo” và hình con trâu; 01 (một) áo khoác vải màu đen có mãu trùm đầu, không có nhãn hiệu; 01 (một) áo thun dài tay màu đen, ngực áo có in chữ “LeBanz”; 01 quần tây màu xám, không có ghi nhãn hiệu , đã qua sử dụng, vì không có giá trị.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 26/11/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn).

Về án phí hình sự sơ thẩm:

Căn cứ theo quy định tại Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Huỳnh Thanh N được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm (thuộc diện hộ nghèo); bị cáo Nguyễn Hoàng D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố: Các bị cáo Huỳnh Thanh N và Nguyễn Hoàng D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh N mức án 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 28/8/2021.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng D mức án 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 09/9/2021.

2. Về bồi thường thiệt hại: Các bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường gì thêm nên miễn xét.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, tuyên:

+Tịch thu, sung công quỹ nhà nước 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại WAVEα, biển số 77N1- 077.75, màu sơn: xám- xanh, không bửng và không có gương chiếu hậu, số khung RLHJA3914KY083113, số máy : JA39E-0939528, đã qua sử dụng, không kiểm tra bên trong.

+Tịch thu, tiêu hủy 01(một) mũ bảo hiểm màu xanh dương, đỉnh mũ và viền mũ có màu xanh đậm, trên mũ có dán chữ “Vietinbank”; 01 (một) mũ vải tròn vành màu đen, trên mũ có in nhiều chữ “Buffalo” và hình con trâu; 01 (một) áo khoác vải màu đen có mãu trùm đầu, không có nhãn hiệu; 01 (một) áo thun dài tay màu đen, ngực áo có in chữ “LeBanz”; 01 quần tây màu xám, không có ghi nhãn hiệu , đã qua sử dụng, vì không có giá trị.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 26/11/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Huỳnh Thanh N được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm (thuộc diện hộ nghèo); bị cáo Nguyễn Hoàng D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ