vanban.org

Bản án 09/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Ea H'Leo, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 19/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Rmah HL - phạm tội hủy hoại rừng (điều 189 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN EA H’LEO
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2022/HS-ST.
Ngày: 19-01-2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO.

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Long.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Hoàng Sơn.

2. Ông Ksơr Y Nai.

-Thư ký phiên toà: ông Nguyễn Thế Trường – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Khánh – Kiểm sát viên.

Ngày 19/01/2022 tại Phòng xử án - Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo, mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 12/2021/TLST-HS ngày 10/12/2021, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2022/QĐST-HS ngày 05/01/2022, đối với bị cáo:

Họ và tên: Rmah HL (Tên gọi khác: Oe H); sinh năm 1996, tại tỉnh Gia Lai; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn PL, xã IL, huyện CP, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 6/12; giới tính: Nam; dân tộc: Ja Rai; tôn giáo: thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông RahLan Pl và bà Rmah H’N; có vợ Siu H’Ph, sinh năm 1996 và 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Bị hại: Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp CP.

Người đại diện: Ông An Ngọc T – Giám đốc – Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: chị Siu H’Ph – sinh năm 1996

Địa chỉ: Thôn PL, xã IL, huyện CP, tỉnh Gia Lai –có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 02/2021, Rmah HL dùng cưa xăng (cưa lốc) và dao rựa đến khu vực rừng lô 16, 18, khoảnh 5 tiểu khu 17 của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp CP, thuộc địa giới hành chính xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk phá rừng với mục đích lấy đất làm rẫy. Rmah HL dùng cưa xăng cắt những cây gỗ to và dùng dao rựa phát dọn những cây nhỏ, cây bụi. Cắt phá được khoảng 1 tuần thì nghỉ. Đến ngày 13/4/2021 Rmah HL cùng vợ dùng cưa xăng và dao rựa đến phát dọn những cây gỗ đã cắt hạ trước và dọn những cây nhỏ cây bụi còn sót lại để lấy đất làm rẫy thì bị lực lượng quản lý bảo vệ rừng Công ty TNHHMTV Lâm nghiệp CP phát hiện và lập biên bản vi phạm.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường lập ngày 20/4/2021, xác định: hiện trường vụ hủy hoại rừng xảy ra tại lô 16, 18 khoảnh 5 tiểu khu 17 do Công ty TNHHMTV Lâm nghgiệp CP quản lý, thuộc địa giới hành chính xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; khu vực chặt phá rừng có diện tích 7.395m2 (0,739 ha); thuộc loại rừng sản xuất; mức độ thiệt hại 100%; số cây bị chặt hạ là 57 cây, chủng loại gỗ gồm: Căm xe và gỗ tạp, đường kính gốc lớn nhất 35cm bị cắt hạ cách mặt đất 90cm; cây có đường kính trung bình 20cm bị cắt hạ cách mặt đất là 45cm; cây có đường kính nhỏ nhất 8cm bị cắt hạ cách mặt đất 65cm. Đa số các cây gỗ bị cắt hạ đã gom lại thành đống và bị đốt cháy, dấu vết cắt hạ bằng công cụ cưa xăng. Diện tích rừng bị phá là 0,739 ha. Tại hiện trường còn lại 36 cây gỗ tròn, gồm Bằng lăng, Cò ke, Lồng mức, Vừng, Sống rắn, Nhàu... thuộc loại gỗ từ nhóm II đến nhóm IV, có khối lượng là 3,394m3/36 thân cây.

Ngày 28/5/2021, Hạt Kiểm lâm E- K tiến hành thu gom số cây gỗ còn lại trên hiện trường trong khu vực bị cáo phá rừng, kết quả thu gom được 29 lóng gỗ có khối lượng 2,682m3.

Tại kết luận giám định ngày 11/5/2021 của Chi cục Kiểm Lâm tỉnh Đắk Lắk, kết luận: Tổng diện tích rừng bị phá tại lô 16, 18 khoảnh 5 tiểu khu 17 là 7.395m2; mục đích sử dụng là rừng sản xuất; hiện trạng rừng: rừng rụng lá nghèo 0,245 ha; rừng thường xanh nghèo 0,494 ha; Khối lượng lâm sản bị thiệt hại không xác định được, do diện tích rừng bị chặt phá bị xáo trộn, một số cây bị lấy đi phần thân hoặc bị đốt cháy chỉ còn lại một ít thân cây. Mức độ thiệt hại 100%;

Tại kết luận định giá tài sản ngày 24/8/2021 của Hội đồng định giá tài sản huyện Ea H’Leo, kết luận: 3,394m3/36 thân cây (1,191m3 Cò ke, nhóm VII; 0,056m3 gỗ Nhàu, nhóm VI; 0,018m3 gỗ Gáo, nhóm VII; 0,304m3 gỗ Cóc, nhóm VIII; 0,1m3 gỗ Bằng lăng, nhóm III; 0,474 gôc Trâm vòng, nhóm V; 0,021m3 gỗ Căm xe, nhóm II; 0,571m3 gỗ Sống rắn, nhóm V; 0,116m3 gỗ Lồng mức, nhóm VII; 0,261m3 gỗ Vừng, nhóm V; 0,282m3 gỗ Tùng, nhóm VII) có tổng giá trị là 14.326.000 đồng. Thiệt hại về môi trường không xác định được.

Trách nhiệm dân sự: Công Ty TNHH MTV Lâm nghiệp CP không đưa ra mức yêu cầu bồi thường cụ thể, mà yêu cầu bị cáo phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, bị cáo đã bồi thường cho Công ty TNHHMTV Lâm Nghiệp CP 9.000.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 05/CT-VKS, ngày 09 tháng 12 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo truy tố Rmah HL về tội “Hủy hoại rừng” theo quy định tại khoản 1 Điều 243 Bộ luật hình sự.

Kết quả xét hỏi tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi của mình như nội dung bản cáo trạng; Người có quyền, nghĩa vụ liên quan chị Siu H’Ph khai: Chị chỉ tham gia dọn những cây khô trên diệt tích rừng do chồng chị đã phát hạ trước đó và chỉ dùng dao rựa phát những cây bụi giáp ranh giới với rẫy gia đình chị chứ không tham gia phá rừng cùng chồng.

Kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi phân tích các chứng cứ buộc tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ và tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Hủy hoại rừng” theo điểm b khoản 1 Điều 243 Bộ luật hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 243; điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Rmah HL từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách bằng hai lần mức án đã tuyên.

Về trách nhiệm dân sự: Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp CP yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật nhưng không đưa ra số thiệt hại cụ thể, trong khi thiệt hại về lâm sản thì không xác định được cụ thể và thiệt hại về môi trường cũng không xác định được mà chỉ xác định được một phần thiệt hại về lâm sản đối với số gỗ còn lại theo Biên bản khám nghiệm hiện trường lập ngày 20/4/2021 là 3,394m3/36 thân cây có giá trị 14.326.000 đồng. Vì vậy cần buộc bị cáo phải bồi thường cho Công Ty TNHH MTV Lâm nghiệp CP số thiệt hại về lâm sản xác định được là 14.326.000 đồng, được khấu trừ số tiền đã bồi thường trước là 9.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng : Tịch thu sung ngân sách nhà nước 29 lóng gỗ thu gom được, có khối lượng 2,682m3 và 01 cưa xăng; tịch thu tiêu hủy 02 con dao phát.

Bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát và không tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã biết được việc làm của bị cáo là sai trái, bị cáo hiện có hoàn cảnh khó khăn xin Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án thấp nhất và cho bị cáo hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Quá trình điều tra, tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về nội dung: khoảng đầu tháng 02/2021 Rmah HL đã có hành vi dùng cưa xăng và dao phát cắt phá 7.390 m2 (0,739 ha) rừng sản xuất thuộc lô 16, 18 khoảnh 5 tiểu khu 17 của Công ty TNHHMTV Lâm nghiệp CP (rừng thuộc địa giới hành chính xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk). Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự để biết hành vi phá rừng là vi phạm pháp luật nhưng do muốn có đất để làm rẫy mà bị cáo đã thực hiện hành vi phá rừng vượt quá mức xử lý hành chính. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Hủy hoại rừng” theo điểm b khoản 1 Điều 243 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ.

Tại Điều 243 bộ luật hình sự, quy định:

“1. Người nào đốt, phá rừng trái phép hoặc có hành vi khác hủy hoại rừng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

…

b) Rừng sản xuất có diện tích từ 5.000 mét vuông (m2) đến dưới 10.000 mét vuông (m2)…”

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến chế độ quản lý bảo vệ rừng của nhà nước, xâm phạm nghiêm trọng đến môi trường sinh thái, gây ra những hậu quả nghiêm trọng khác như thiên tai lũ lụt, biến đổi khi hâu ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội và còn xâm phạm tài sản của người khác. Chỉ vì mục đích lấy đất làm nương rẫy, xây dựng kinh tế gia đình mà bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, ngoài ra còn có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự; là người dân tộc thiểu số nhận thức pháp luật hạn chế; bị cáo có điều kiện hoàn cảnh kinh tế khó khăn; đã tự nguyện bồi thường cho chủ rừng là Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp CP 9.000.000đ. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo thể hiện tính nhân đạo khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa. Do được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú ổn định rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để cải tạo mà chỉ cần cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo đồng thời tạo điều kiện để bị cáo vừa cải tạo vừa lao động phụ giúp gia đình.

. Đối với chị Siu H’Ph là vợ của Rmah HL, chỉ tham gia dọn những cây gỗ, cây bụi nhỏ sót lại trên diện tích rừng do Rmah HL đã chặt phá trước đó và chỉ phát dọn những cây bụi giáp ranh giới với đám rẫy của gia đình chị chứ không tham gia phá rừng từ đầu cùng với Rmah HL nên cơ quan điều tra không xử lý hình sự là phù hợp.

. Về trách nhiệm dân sự: Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp CP yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại nhưng không đưa ra mức cụ thể mà chỉ yêu cầu bồi thường theo quy định của pháp luật. Theo kết luận giám định của cơ quan chuyên môn thì thiệt hại về lâm sản không xác định được cụ thể và thiệt hại về môi trường cũng không xác định được mà chỉ xác định được một phần thiệt hại về lâm sản đối với số gỗ còn sót lại theo Biên bản khám nghiệm hiện trường lập ngày 20/4/2021 là 3,394m3/36 thân cây có giá trị 14.326.000 đồng. Vì vậy, cần buộc bị cáo phải bồi thường cho Công Ty TNHH MTV Lâm nghiệp CP số thiệt hại về lâm sản xác định được là 14.326.000 đồng, được khấu trừ số tiền đã bồi thường trước là 9.000.000 đồng.

. Về xử lý vật chứng:

Đối với 02 con dao rựa là công cụ dùng để chặt phá rừng, giá trị sử dụng nhỏ nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với cưa xăng (cưa lốc) là công cụ bị cáo dùng để phá rừng nên tịch thu sung quỹ nhà nước.

Đối với 29 lóng gỗ thu gom được có khối lượng 2,682m3 là tài sản của Công ty TNHHMTV Lâm nghiệp CP nhưng do bị cáo đã bồi thường 9.000.000 đồng số còn lại 5.23026.000 đồng tiếp tục buộc bị cáo phải bồi thường, do vậy cần trịch thu sung quỹ nhà nước.

. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

́

QUYÊT ĐI ̣NH:

Tuyên bố: Bị cáo Rmah HL phạm tội “Hủy hoại rừng”.

- Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 243; điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Bị cáo Rmah HL 01(một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thác 02 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho UBND xã IL, huyện CP, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Rmah HL phải bồi thường cho Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp CP 14.326.000 đồng (mười bốn triệu ba trăm hai mươi sáu nghìn đồng) được khấu trừ số tiền đã bồi thường trước 9.000.000 đồng (chín triệu đồng) số còn lại phải tiếp tục bồi thường là 5.326.000 đồng (năm triệu ba trăm hai mươi sáu nghìn đồng).

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 02 con dao rựa.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 cưa xăng là công cụ phá rừng và 29 lóng gỗ có khối lượng 2,682m3 và 01 cưa xăng (cưa lốc) (Các vật chứng này có đặc điểm như biên bản giao nhận 14/12/2021 giữa Công an huyện Ea H’Leo và Chi cục thi hành án dân sự huyện Ea H’Leo)

Về án phí: Bị cáo Rmah HL phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết. Người có quyền, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ