vanban.org

Bản án 09/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận Tuyên án 14/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Trần Phú Q, Huỳnh Văn D (C) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Phú Q 08 (tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25-9-2021. Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Văn D (C) 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 14-01-2022). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Phú Q cùng đồng phạm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Trần Phú Q, Huỳnh Văn D (C) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2022/HS-ST
Ngày 14-01-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,

TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trần Long

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Bình

Bà Trần Thị Minh Nguyệt

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thiên Quan - Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Đạo - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 214/2021/TLST-HS ngày 26 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 231/2021/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2021 đối với các bị cáo:

1. TRẦN PHÚ Q, sinh năm: 1998 tại Ninh Thuận.

Nơi cư trú: Thôn L, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thanh T và bà Quỳnh Thị N; có vợ: Nguyễn Thị Th và 02 người con, đều sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ ngày 25-9-2021, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận. (có mặt)

2. HUỲNH VĂN D (C), sinh năm: 2002 tại Ninh Thuận.

Nơi cư trú: Thôn L, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn S (chết) và bà Phạm Thị Q (chết); có 01 người con, sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo hiện đang tại ngoại. (có mặt)

- Bị hại: Ông Đặng Danh T, sinh năm: 1975; hộ khẩu thường trú: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; chỗ ở hiện nay: Khu phố 7, phường B, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Thiết Lục L, sinh năm: 2003; nơi cư trú: Khu phố M, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 22-9-2021, Huỳnh Văn D điều khiển xe mô tô hiệu Avarice, màu đỏ, biển số 86R1-8071 chở Trần Phú Q đi hái dừa. Khi đến khu phố 7, phường B, thành phố P thì nhìn thấy 01 xe mô tô hiệu Wakeup, màu đỏ, biển số 78F9-1004 có cắm sẵn chìa khóa trên xe của ông Đặng Danh T đang dựng ở lề đường, không có người trông coi thì Q nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, Q kêu D quay đầu xe lại để lấy xe mô tô của ông T bán kiếm tiền tiêu xài cá nhân thì D đồng ý. D điều khiển xe mô tô chở Q chạy đến gần vị trí dựng xe của ông T rồi dừng xe lại, cảnh giới cho Q đi đến nổ máy lấy xe mô tô của ông T điều khiển chạy về nhà của D ở thôn L, xã P, huyện N cất giấu. Sau đó, D, Q mở cốp xe mô tô của ông T thì nhìn thấy bên trong có 01 đăng ký xe mô tô hiệu Wakeup, màu đỏ, biển số 78F9-1004 mang tên Nguyễn Ngọc A (sinh năm: 1951, trú tại: Thôn V, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên), D chụp lại hình ảnh rồi đăng lên Facebook rao bán xe thì anh Thiết Lục L hỏi mua, hẹn đến sân bóng đá thuộc thôn L để mua bán xe. Tại đây, D, Q đã bán xe mô tô hiệu Wakeup, màu đỏ, biển số 78F9-1004 cho anh L với giá 1.800.000 đồng. Số tiền bán được, Q chia cho D 500.000 đồng, Q 1.300.000 đồng, cả hai đã tiêu xài cá nhân hết. Sau khi sự việc xảy ra, ông Đặng Danh T làm đơn trình báo cho Công an. Tại Cơ quan điều tra, Trần Phú Q, Huỳnh Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 76/KLTS ngày 27-9-2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận kết luận: 01 xe mô tô hiệu Wakeup, màu đỏ, biển số 78F9-1004 có giá trị là 3.300.000 đồng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Bản cáo trạng số: 216/CT-VKSPRTC ngày 25 tháng 11 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận truy tố các bị cáo Trần Phú Q, Huỳnh Văn D (C) về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, quan điểm luận tội của Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Q từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo D từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách.

- Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phần dân sự và xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Các bị cáo không tranh luận.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo rất hối hận về hành vi của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai bị hại và các chứng cứ khác được thu thập tại hồ sơ vụ án, nên có căn cứ xác định: Khoảng 12 giờ ngày 22-9-2021, tại khu phố 7, phường B, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận, lợi dụng sự sơ hở mất cảnh giác, không có người trông coi, Trần Phú Q và Huỳnh Văn D đã có hành vi lén lút lấy trộm chiếc xe mô tô hiệu Wakeup, màu đỏ, biển số 78F9-1004 trị giá 3.300.000 đồng của ông Đặng Danh T. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận truy tố các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo đều là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, nên cần xử lý nghiêm minh trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Đây là vụ án đồng phạm mang tính giản đơn, giữa các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công cụ thể. Tuy nhiên, cũng cần phân tích đánh giá vai trò, mức độ phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của từng bị cáo để có cơ sở cho việc lượng hình.

Đối với Trần Phú Q là người chủ động khởi xướng, rủ rê và trực tiếp thực hiện vụ trộm cắp tài sản nói trên, sau đó mang đi tiêu thụ. Trong vụ án này, bị cáo là người có vai trò chính nên phải chịu mức hình phạt cao hơn so với bị cáo D và cần phải cách ly ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã tác động gia đình bồi thường cho anh Thiết Lục L, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, b, i, h khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Đối với Huỳnh Văn D tham gia tích cực với vai trò giúp sức, bị cáo là người điều khiển xe mô tô, cảnh giới để cho bị cáo Q lấy trộm tài sản và cùng mang tài sản trộm cắp được đi tiêu thụ, nên cũng phải chịu mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, đã tự nguyện bồi thường cho anh Thiết Lục L và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được quy định tại điểm s, i, h, b khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên để giảm nhẹ hình phạt và không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội mà cho hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe, cải tạo bị cáo.

Đối với anh Thiết Lục L là người đã mua xe của Trần Phú Q, Huỳnh Văn D nhưng không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý hình sự là có cơ sở.

Về xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tạm giữ và trả lại cho chủ sở hữu là ông Đặng Danh T 01 xe mô tô hiệu Wakeup, màu đỏ, biển số 78F9-1004 và 01 đăng ký xe mô tô hiệu Wakeup, màu đỏ, biển số 78F9-1004 mang tên Nguyễn Ngọc A là có căn cứ.

Đối với chiếc xe mô tô hiệu Avarice, màu đỏ, biển số 86R1-8071 mà bị cáo D sử dụng để làm phương tiện phạm tội. Quá trình điều tra, Huỳnh Văn D khai nhận chiếc xe trên thuộc quyền sở hữu của ông Huỳnh Văn S (cha của D), hiện ông S đã chết. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, kết quả thể hiện chủ xe là ông Đoàn Văn L, sinh năm: 1967, trú tại: Khu phố 5, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Cơ quan điều tra đã có công văn phối hợp xác minh gửi đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận nhưng chưa có kết quả. Do đó, Cơ quan điều tra đang tạm giữ đối với chiếc xe mô tô trên để tiếp tục điều tra làm rõ, đề nghị xử lý sau.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã nhận tiền bồi thường không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Phú Q.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Huỳnh Văn D (C).

Tuyên bố: Các bị cáo Trần Phú Q, Huỳnh Văn D (C) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Phú Q 08 (tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25-9-2021.

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Văn D (C) 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 14-01-2022).

Giao bị cáo Huỳnh Văn D (C) cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận nơi bị cáo đang cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về xử lý vật chứng: Giao cho Cơ quan điều tra Công an thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tiếp tục tạm giữ 01 xe mô tô hiệu Avarice, màu đỏ, biển số 86R1-8071 để tiếp tục điều tra làm rõ và xử lý sau.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Các bị cáo Trần Phú Q, Huỳnh Văn D (C), mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt các bị cáo, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 14-01-2022). Riêng bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo D)

Cỡ chữ