- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Hoàng Hà - Tàng trữ, lưu hành tiền giả - phạm tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả (điều 207 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Dƣơng Hoàng H phạm tội “Tàng trữ, lưu hành tiền giả”
- Căn cứ chính? Điều 207 Bộ luật hình sự Tuyên bố; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2022/HS-ST Ngày: 17-01-2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trƣơng Ngọc Hồng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Trƣơng Hiển
Bà Đào Thị Kim Loan
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Lữ Thị Minh Cảnh – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 48/TLST-HS ngày 23 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2021/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:
Dƣơng Hoàng H, sinh năm: 1985. Nơi sinh: Huyện Vĩnh Th, tỉnh Kiên Giang. Nơi đăng ký thường trú: Ấp Chống M, xã Minh Th, huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang; chỗ ở: Đường XC9A, phường Mỹ Ph, thị xã Bến C, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn H và bà Nguyễn Thị Lan Ph; vợ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1978 và 02 người con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/3/2021 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại:
1. Ông Hoàng Văn A, sinh năm 1989. Vắng mặt
Nơi ĐKTT: Khu phố 1, phường Long Ph, thị xã Phước L, tỉnh Bình Phước
Chỗ ở: Tổ 3, ấp Rạch H, xã Hàm N, thành phố Phú Q, tỉnh Kiên Giang
2. Ông Phùng Chí H, sinh năm 1984. Vắng mặt
Nơi ĐKTT: Ấp Tân A, xã Lục Sĩ Th, huyện Trà Ô, tỉnh Vĩnh Long
Chỗ ở: Ấp Suối Đ, xã Dương T, thành phố Phú Q, tỉnh Kiên Giang
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Thị Quỳnh, sinh năm 1982. Vắng mặt
Nơi cư trú: 170 Nguyễn Văn Kh, Tổ 10, thị trấn Củ Ch, huyện Củ Ch, Thành phố Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 18 giờ 30 ngày 21/3/2021, Dương Hoàng H điều khiển xe máy mang biển kiểm soát 68N1-223.49 đến Cửa hàng giao dịch Viettel Hoàng A, địa chỉ: Khu phố 12, phường Dương Đ, thành phố Phú Q, tỉnh Kiên Giang. Hà lấy trong ví da ra 06 tờ tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam, mệnh giá 500.000 đồng và 02 tờ tiền Việt Nam đồng giả, mệnh giá 500.000 đồng có cùng số seri “RT 18888776” vào giữa các tờ tiền thật yêu cầu nhân viên cửa hàng tên Nguyễn Quang Chánh T, chuyển 4.000.000 đồng vào tài khoản của Ngân hàng Vietcombank tên người nhận Dương Hoàng H, số tài khoản: 0841000000103. Lúc này. T kiểm tra tiền, phát hiện 02 tờ tiền nghi giả, có cùng số seri “RT 18888776”, nên không thực hiện yêu cầu chuyển tiền của H. Sau đó, H tiếp tục lấy 01 tờ tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam, mệnh giá 500.000 đồng ra đưa cho T, yêu cầu T tiếp tục chuyển 3.500.000 đồng vào tài khoản và trả lại 02 tờ tiền giả cho H nhưng T không đống ý. H biết mình bị phát hiện nên nhanh chóng rời khỏi cửa hàng, đồng thời lấy 05 tờ tiền giả mệnh giá 500.000 đồng có cùng số seri “RT 18888776” ném bỏ ở lề đường trước cửa hàng và định bỏ đi. Do T đã giữ chìa khóa xe, nên H bị T và người dân xung quanh bắt quả tang cùng vật chứng (07 tờ tiền thật và 07 tờ tiền nghi giả, cùng mệnh giá 500.000 đồng) về hành vi lưu hành tiền giả.
Sau đó, tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Dương Hoàng H (nhà cậu ruột của H tên Nguyễn Thanh H) tại: Tổ 1, ấp Lê B, xã Cửa C, thành phố Phú Q, tỉnh Kiên Giang, về hành vi tàng trữ tiền giả, thu được: 21 (hai mươi mốt) tờ tiền Việt Nam đồng, mệnh giá 500.000 đồng có cùng số seri “RT 18888776”; 05 (năm) tờ giấy có in hình cửa sổ lớn có đặc điểm giống cửa sổ lớn trên tờ tiền Việt Nam mệnh giá 500.000 đồng; 04 (bốn) tờ giấy có in hình cửa sổ nhỏ có đặc điểm giống cửa sổ nhỏ trên tờ tiền Việt Nam mệnh giá 500.000 đồng.
Trong quá trình điều tra, Dương Hoàng H khai nhận: Vào khoảng giữa tháng 3/2021 thông qua mạng xã hội Facebook, H tìm hiểu và thấy tài khoản Facebook rao bán tiền giả với tỉ lệ 2.000.000 đồng tiền Việt Nam thật mua được 20.000.000 đồng tiền Việt Nam giả, mệnh giá 500.000 đồng, H đã thỏa thuận mua và địa điểm giao nhận tiền giả tại khu vực đường 3/2 giao nhau với đường Phan Thị R, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Ngày 18/3/2021, sau khi nhận được tiền giả H lên tàu Thạnh Th đi thành phố Phú Quốc. Khi ở trên tàu, H mở gói tiền giả để kiểm tra thấy 40 tờ tiền Việt Nam giả, mệnh giá 500.000đ, (trong đó: có 19 tờ hoàn thiện, 21 tờ chưa hoàn thiện). Trong lúc xem do bấn cẩn làm lem, bong tróc 08 tờ tiền giả đã hoàn thiện, H ném xuống biển 08 tờ tiền giả này cùng hộp đựng tiền giả và cất giấu số tiền giả vào trong cặp của mình. Để xóa dấu vết H mở điện thoại lấy ra sim ném bỏ xuống biển, xóa tài khoản Facebook giao dịch mua tiền giả.
Khi đến Phú Q, Dương Hoàng H ở nhờ nhà cậu ruột tên Nguyễn Thanh H, chỗ ở tại: Ấp Lê B, xã Cửa C, thành phố Phú Q, tỉnh Kiên Giang. Khoảng 19 giờ ngày 19/3/2021, H điều khiển xe máy mang biển kiểm soát 68N1-223.49 đến Cửa hàng giao dịch Viettel Hoàng A, địa chỉ: Tổ 3, ấp Rạch H, xã Hàm N, thành phố Phú Q, tỉnh Kiên Giang gặp nhân viên cửa hàng tên Hoàng Văn A, H sử dụng 02 tờ tiền Việt Nam giả mệnh giá 500.000 đồng có cùng số seri “RT 18888776” xếp xen lẫn vào trong 06 tờ tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam thật, mệnh giá 500.000 đồng, nhằm lấy số lượng tiền thật che giấu 02 tờ tiền giả. Hà đưa cho nhân viên giao dịch tên Hoàng Văn A, rồi yêu cầu nhân viên chuyển 4.000.000 đồng vào tài khoản Vietcombank của H, số tài khoản: 0841000000103 mở tại Ngân hàng Vietcombank Bắc Bình Dương, tỉnh Bình D. Nhân viên nhận tiền không phát hiện 02 tờ tiền giả, nên tiến hành thao tác chuyển tiền, ngay sau đó thì có tin nhắn thông báo vào điện thoại của Hà đã nhận thành công 4.000.000 đồng vào tài khoản. Sau đó Hoàng Văn A phát hiện được 02 tờ nghi tiền giả và giao nộp cho Cơ quan điều tra.
Dương Hoàng H tiếp tục điều khiển xe đến Cửa hàng giao dịch Viettel Suối Đá, địa chỉ tại: ấp Suối Đ, xã Dương T, thành phố Phú Q, tỉnh Kiên Giang, yêu cầu nhân viên Trần Thị Mỹ S chuyển 3.500.000 đồng vào tài khoản, H lấy 06 tờ tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam thật, mệnh giá 500.000 đồng rồi xếp xen lẫn 01 tờ tiền Việt Nam giả, mệnh giá 500.000 đồng có số seri “RT 18888776” vào giữa các tờ tiền thật rồi đưa cho S để thanh toán cho việc chuyển tiền. S không phát hiện tiền giả và thực hiện chuyển 3.500.000 đồng vào tài khoản ngân hàng của H, số tài khoản: 0841000000103. Ngay sau đó, điện thoại H nhận được tin nhắn đã nhận 3.500.000 đồng vào tài khoản ngân hàng Vietcombank của H. Sau đó Dương Hoàng H rời khỏi cửa hàng và về nhà cậu ruột tên Nguyễn Thanh H. Sau đó nhân viên cửa hàng phát hiện được tờ tiền giả và giao nộp 01 tờ tiền nghi giả trên cho cơ quan điều tra.
Dương Hoàng H còn khai nhận có đến Cửa hàng xăng dầu Hàm N, đường tỉnh lộ ĐT47, ấp Rạch H, xã Hàm N, huyện Phú Q, tỉnh Kiên Giang gặp nam nhân viên, H yêu cầu mua 50.000 đồng xăng, sau khi nhân viên đổ xăng, H lấy trong ví ra 01 (một) tờ tiền Việt Nam giả, mệnh giá 500.000 đồng thanh toán và nhận lại 450.000 đồng. Nhân viên không phát hiện tiền giả. Cơ quan An ninh điều tra đã làm việc với Lê Thanh V trực tiếp bán xăng tại Cửa hàng xăng dầu Hàm N, đường tỉnh lộ ĐT47, ấp Rạch H, xã Hàm N, thành phố Phú Q, tỉnh Kiên Gi nhưng V xác nhận không phát hiện được tiền giả. Xác minh trên địa bàn xã Hàm N, thành phố Phú Q cũng không phát hiện, không có tin báo, tố giác về tiền giả.
Như vậy, Dương Hoàng H đã đặt mua tiền giả với tỉ lệ 2.000.000 đồng tiền Việt Nam đồng thật, được 20.000.000 đồng tiền giả, loại mệnh giá 500.000 đồng. H trực tiếp mang tiền Việt Nam đồng giả, mệnh giá 500.000 đồng đến 03 địa điểm khác nhau trên địa bàn thành phố Phú Q để lưu hành tiền giả, thu lợi bất chính được 2.000.000 đồng. Đến ngày 21/3/2021 khi đang thực hiện hành vi lưu hành tiền giả thì bị bắt quả tang cùng vật chứng tại cửa hàng giao dịch Viettel Hoàng A, khu phố 12, phường Dương Đ, thành phố Phú Q, tỉnh Kiên Giang. Khi tiến hành khám xét khẩn cấp tại nơi ở của H còn thu giữ thêm 21 tờ tiền Việt Nam đồng giả, mệnh giá 500.000 đồng. Đây là hành vi tàng trữ tiền giả.
* Vật chứng trong vụ án:
- Tang vật thu giữ khi bắt quả tang, gồm:
+ 07 (bảy) tờ tiền Việt Nam nghi giả mệnh giá 500.000 đồng có cùng số seri “RT 18888776”;
+ 07 (bảy) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 500.000 đồng có số seri lần lượt là VB 17715117, IZ 15588476, RK 14694601, LX 15495206, XF 14842337, RA 18429262, UI 15261245;
+ 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda, số loại Vision, màu sơn đỏ, biển kiểm soát 68N1-223.49;
+ 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe môtô, xe máy số 022268, tên Nguyễn Thị Quỳnh;
+ 01 (một) giấy phép lái xe số AE523553 tên Dương Hoàng Hà;
+ 01 (một) thẻ ngân hàng Vietcombank, tên DUONG HOANG HA;
+ 02 (hai) giấy chứng minh nhân dân, tên Dương Hoàng Hà;
+ 01 (một) sổ hộ khẩu, có ghi tên Dương Hoàng Hà;
+ 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung, số loại Galaxy J2 Prime;
+ 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Realme, màu xanh
- Tạm giữ khi khám xét:
+ 21 (hai mươi mốt) tờ tiền Việt Nam nghi giả mệnh giá 500.000 đồng có cùng số seri RT 18888776;
+ 05 (năm) tờ giấy có in hình cửa sổ lớn có đặc điểm giống cửa sổ lớn trên tờ tiền Việt Nam mệnh giá 500.000 đồng;
+ 04 (bốn) tờ giấy có in hình cửa sổ nhỏ có đặc điểm giống cửa sổ nhỏ trên tờ tiền Việt Nam mệnh giá 500.000 đồng
- Bị hại giao nộp:
+ Hoàng Văn A, Cửa hàng giao dịch Viettel (Hàm N), địa chỉ tại: Tổ 3, ấp Rạch H, xã Hàm N, thành phố Phú Q, tỉnh Kiên Giang giao nộp 02 tờ tiền giả có cùng số seri “RT 18888776”
+ Phùng Chí H, Cửa hàng Viettel Suối Đ, địa chỉ tại: ấp Suối Đ, xã Dương T, thành phố Phú Q, tỉnh Kiên Giang giao nộp 01 (một) tờ tiền Việt Nam giả mệnh giá 500.000 đồng có số seri “RT 18888776”; 01 USB lưu dữ liệu trích xuất từ camera của cửa hàng
* Tại Kết luận giám định số: 308/KL-KTHS ngày 29/3/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết luận:
- 07 (bảy) tờ tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam, mệnh giá 500.000 đồng có các số seri gồm: VB 17715117, IZ 15588476, RK 14694601, LX 15495206, XF 14842337, RA 18429262, UI 15261245 (ký hiệu từ A1 đến A7) là tiền thật.
- 28 (hai mươi mốt) tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam, mệnh giá 500.000 đồng có cùng số seri RT 18888776 (ký hiệu từ A8 đến A35) là tiền giả
* Tại Kết luận giám định số: 613/KL-KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang kết luận:
- 03 (ba) tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam, mệnh giá 500.000 đồng có cùng số seri RT 18888776 (ký hiệu từ A1 đến A3) là tiền giả
Tại bản cáo trạng số: 10/CT-VKSTKG – P1 ngày 21/7/2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Dương Hoàng H về tội “Tàng trữ, lưu hành tiền giả” theo khoản 2 Điều 207 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố đã đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của bị cáo và xác định vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 207, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Dƣơng Hoàng H 7 – 8 năm tù.
*Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước, gồm:
+ Số tiền 3.500.000 đồng tiền bắt quả tang (Tiền dùng vào việc phạm tội), theo giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 23/6/2021 của Kho bạc nhà nước tỉnh Kiên Giang
+ 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Realme, màu xanh của bị cáo Dương Hoàng Hà (dùng vào việc phạm tội).
- Tịch thu tiêu hủy vật chứng không còn giá trị sử dụng, gồm:
+ 31 (ba mươi mốt) tờ tiền Việt Nam đồng giả, mệnh giá 500.000 đồng có cùng số seri “RT 18888776”;
+ 05 (năm) tờ giấy có in hình cửa sổ lớn có đặc điểm giống cửa sổ lớn trên tờ tiền Việt Nam mệnh giá 500.000 đồng;
+ 04 (bốn) tờ giấy có in hình cửa sổ nhỏ có đặc điểm giống cửa sổ nhỏ trên tờ tiền Việt Nam mệnh giá 500.000 đồng.
- Đề nghị trả lại cho bị cáo:
+ 01 (một) giấy phép lái xe số AE523553 tên Dương Hoàng Hà;
+ 01 (một) thẻ ngân hàng Vietcombank, tên DUONG HOANG HA;
+ 02 (hai) giấy chứng minh nhân dân, tên Dương Hoàng H;
+ 01 (một) sổ hộ khẩu, có ghi tên Dương Hoàng H;
+ 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung, số loại Galaxy J2 Prime;
- Đề nghị trả lại cho Nguyễn Thị Q: 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda, số loại Vision, màu sơn đỏ, biển kiểm soát 68N1-223.49; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe môtô, xe máy số 022268, tên Nguyễn Thị Q. (Dương Hoàng H đã mượn xe của Q để làm phương tiện đi lại, Q không biết H dùng xe làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội) nên trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp.
* Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị buộc bị cáo Dương Hoàng H nộp số tiền thu lợi bất chính do hành vi phạm tội mà có là 2.000.000 đồng để bồi thường cho các bị hại sau: Phùng Chí H số tiền 500.000 đồng, Hoàng Văn A số tiền 1.000.000 đồng; còn 500.000 đồng thu lợi bất chính ở cây xăng, do không xác định được bị hại, nên đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Dương Hoàng H thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án:
Bị cáo xin mức án nhẹ để sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Kiên Giang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi bị truy tố của bị cáo:
Vào khoảng giữa tháng 3/2021, thông qua mạng xã hội Facebook, bị cáo Dương Hoàng H đã giao dịch mua tiền giả với tỉ lệ 2.000.000 đồng tiền Việt Nam đồng thật, được 20.000.000 đồng tiền giả, loại mệnh giá 500.000 đồng. H thỏa thuận địa điểm giao nhận tiền giả trên địa bàn thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Sau khi nhận được tiền giả, H đi đến thành phố Phú Q, tỉnh Kiên Giang để thực hiện hành vi lưu hành tiền giả. Với hình thức là H trực tiếp mang tiền Việt Nam đồng giả, mệnh giá 500.000 đồng xen lẫn với tiền Việt Nam đồng thật đến các cửa hàng giao dịch Viettel để chuyển tiền vào tài khoản của H. H đã thực hiện trót lọt 3 lượt ở ba địa điểm khác nhau trên địa bàn thành phố Phú Q về hành vi lưu hành tiền giả, thu lợi bất chính được 2.000.000 đồng. Đến ngày 21/3/2021 khi đang thực hiện hành vi lưu hành tiền giả tại cửa hàng giao dịch Viettel Hoàng A, khu phố 12, phường Dương Đ, thành phố Phú Q, tỉnh Kiên Giang thì bị bắt quả tang cùng vật chứng, 07 tờ tiền Việt Nam đồng thật và 07 tờ tiền Việt Nam đồng giả. Ngoài ra, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp tại nơi ở của H còn thu giữ thêm 21 tờ tiền Việt Nam đồng, mệnh giá 500.000 đồng. Người bị hại Phùng Chí H giao nộp 01 tờ tiền, mệnh giá 500.000 đồng; Hoàng Văn A giao nộp 02 tờ tiền, mệnh giá 500.000 đồng. Qua giám định 31 tờ tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam, mệnh giá 5000.000 đồng là tiền giả, trong đó: 07 tờ bắt quả tang, 03 tờ do hai bị hại nộp, 21 tờ thu giữ lúc khám xét khẩn cấp. Tại phiên tòa, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để kết luận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang truy tố và luận tội bị cáo Dương Hoàng H về tội “Tàng trữ, lưu hành tiền giả” theo khoản 2 Điều 207 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Về tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo cố ý xen lẫn tiền giả và chung với tiền thật để tránh sự phát hiện, đưa tiền giả vào lưu thông trên thị trường, gây thiệt hại về tài sản cho nhiều người, trực tiếp xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, làm ảnh hưởng đến chính sách tiền tệ của Nhà nước và gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc mới có tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung cho xã hội và thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo nên áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt cho bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội nhiều lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về quan điểm đề nghị của vị đại diện viện kiểm sát:
Về tình tiết định khung hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, mức án cho bị cáo mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp quy định pháp luật nên được chấp nhận.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước, gồm:
+ Số tiền 3.500.000 đồng tiền bắt quả tang (Tiền dùng vào việc phạm tội), theo giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 23/6/2021 của Kho bạc nhà nước tỉnh Kiên Giang.
+ 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Realme, màu xanh của bị cáoDương Hoàng H (dùng vào việc phạm tội).
- Tịch thu tiêu hủy vật chứng không còn giá trị sử dụng, gồm:
+ 31 (ba mươi mốt) tờ tiền Việt Nam đồng giả, mệnh giá 500.000 đồng có cùng số seri “RT 18888776”;
+ 05 (năm) tờ giấy có in hình cửa sổ lớn có đặc điểm giống cửa sổ lớn trên tờ tiền Việt Nam mệnh giá 500.000 đồng;
+ 04 (bốn) tờ giấy có in hình cửa sổ nhỏ có đặc điểm giống cửa sổ nhỏ trên tờ tiền Việt Nam mệnh giá 500.000 đồng.
- Trả lại cho bị cáo:
+ 01 (một) giấy phép lái xe số AE523553 tên Dương Hoàng H;
+ 01 (một) thẻ ngân hàng Vietcombank, tên DUONG HOANG HA;
+ 02 (hai) giấy chứng minh nhân dân, tên Dương Hoàng H;
+ 01 (một) sổ hộ khẩu, có ghi tên Dương Hoàng H;
+ 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung, số loại Galaxy J2 Prime;
- Trả lại cho Nguyễn Thị Q: 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda, số loại Vision, màu sơn đỏ, biển kiểm soát 68N1-223.49; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe môtô, xe máy số 022268, tên Nguyễn Thị Q. (Dương Hoàng H đã mượn xe của Q để làm phương tiện đi lại, Q không biết H dùng xe làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội) nên trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp.
Buộc bị cáo Dương Hoàng H nộp số tiền thu lợi bất chính do hành vi phạm tội mà có là 2.000.000 đồng để bồi thường cho các bị hại sau: Phùng Chí H số tiền 500.000 đồng, Hoàng Văn A số tiền 1.000.000 đồng; còn 500.000 đồng thu lợi bất chính ở cây xăng, do không xác định được bị hại, nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Về án phí:
Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
*Về các vấn đề khác:
Do chưa xác định được người bán tiền giả cho Dương Hoàng H, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ, nếu có căn cứ sẽ xử lý sau theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 207 Bộ luật hình sự
Tuyên bố: Bị cáo Dƣơng Hoàng H phạm tội “Tàng trữ, lưu hành tiền giả”
Áp dụng: Khoản 2 Điều 207, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Dƣơng Hoàng H 08 (Tám) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/3/2021.
*Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước, gồm:
+ Số tiền 3.500.000 đồng tiền bắt quả tang (tiền dùng vào việc phạm tội), theo giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 23/6/2021 của Kho bạc nhà nước tỉnh Kiên Giang
+ 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Realme, màu xanh của bị cáo Dương Hoàng Hà (dùng vào việc phạm tội).
- Tịch thu tiêu hủy vật chứng không còn giá trị sử dụng, gồm:
+ 31 (ba mươi mốt) tờ tiền Việt Nam đồng giả, mệnh giá 500.000 đồng có cùng số seri “RT 18888776”;
+ 05 (năm) tờ giấy có in hình cửa sổ lớn có đặc điểm giống cửa sổ lớn trên tờ tiền Việt Nam mệnh giá 500.000 đồng;
+ 04 (bốn) tờ giấy có in hình cửa sổ nhỏ có đặc điểm giống cửa sổ nhỏ trên tờ tiền Việt Nam mệnh giá 500.000 đồng.
- Trả lại cho bị cáo:
+ 01 (một) giấy phép lái xe số AE523553 tên Dương Hoàng Hà;
+ 01 (một) thẻ ngân hàng Vietcombank, tên DUONG HOANG HA;
+ 02 (hai) giấy chứng minh nhân dân, tên Dương Hoàng H;
+ 01 (một) sổ hộ khẩu, có ghi tên Dương Hoàng H;
+ 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung, số loại Galaxy J2 Prime;
- Trả lại cho Nguyễn Thị Q: 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda, số loại Vision, màu sơn đỏ, biển kiểm soát 68N1-223.49; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe môtô, xe máy số 022268, tên Nguyễn Thị Q. (Dương Hoàng H đã mượn xe của Q để làm phương tiện đi lại, Q không biết H dùng xe làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội) nên trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp.
Theo Quyết định chuyển giao vật chứng số 08/QĐ-VKSKG-P1 ngày 22 tháng 7 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang.
Buộc bị cáo Dương Hoàng H nộp số tiền thu lợi bất chính do hành vi phạm tội mà có là 2.000.000 đồng để bồi thường cho các bị hại sau: Phùng Chí H số tiền 500.000 đồng, Hoàng Văn A số tiền 1.000.000 đồng; còn 500.000 đồng thu lợi bất chính ở cây xăng, do không xác định được bị hại, nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
*Về án phí:
Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
*Về quyền kháng cáo:
Báo cho bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng trường hợp vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Vụ giám đốc kiểm tra 1 (1); - VKSND Cấp cao tại Tp. HCM (1); - TAND Cấp cao tại Tp.HCM (1); - VKSND tỉnh KG (1); - Sở Tư pháp tỉnh KG (1); - THA tỉnh KG (1); - Cơ quan điều tra tỉnh KG (1); - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh KG (1); - Trại tạm giam - CA tỉnh KG (2); - Bị cáo (1); - Luật sư (1); - Tổ hành chính tư pháp (1); - Lưu hồ sơ (1); - Lưu tòa hình sự (5). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Trƣơng Ngọc Hồng |