- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc T cùng đồng phạm tộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Ngọc T và Nguyễn Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA TỈNH LONG AN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2022/HS-ST Ngày: 15-3-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Mạnh Quyết;
Ông Nguyễn Văn Năm
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý An – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Sỹ Diệu - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2022/TLST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 02 năm 2022 đối với các bị cáo:
1.Họ và tên: Nguyễn Ngọc T (tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam; Sinh năm 1995; Nơi cư trú: Ấp 3, xã N, huyện H, tỉnh Long An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 05/12; Nghề nghiệp: làm thuê; Cha: Nguyễn Ngọc T; Mẹ: Nguyễn Thị T; Vợ: Nguyễn Thị Diễm H; Con: Nguyễn Thị Ngọc Y, sinh năm 2016.
Tiền sự: Không.
Tiền án: Ngày 09/5/2019 bị TAND huyện Đức Huệ, tỉnh Long An xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong ngày 30/10/2019.
Ngày 29/9/2020, bị TAND huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong ngày 03/5/2021.
Bị tạm giữ từ ngày 22/10/2021 đến ngày 28/10/2021 chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Thủ Thừa.
2.Họ và tên: Nguyễn Thanh T (tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam; Sinh năm 1989; Nơi cư trú: Ấp 4, xã T, huyện H, tỉnh Long An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 09/12; Nghề nghiệp: không; Cha: Nguyễn Văn L; Mẹ: Nguyễn Thị L; Vợ: Võ Thị B, (đã ly hôn); Con: Nguyễn Hữu L, sinh năm 2010.
Tiền sự: 10/9/2012, bị Công an xã Bình Thành, huyện Đức Huệ xử phạt 750.000đ về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
Tiền án: Ngày 27/8/2019 bị TAND tỉnh Long An xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong ngày 08/7/2020.
Bị tạm giữ từ ngày 27/10/2021 đến ngày 28/10/2021 chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Thủ Thừa.
(Các bị cáo có mặt)
- Bị hại: Anh Hà Thanh Tr, sinh năm 1983. Địa chỉ: Ấp 2, xã T, huyện T, tỉnh Long An.(vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1996. Địa chỉ: Ấp 2, T, huyện H, tỉnh Long An.(vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 22/10/2021, Nguyễn Ngọc T đi cùng một người bạn tên Toàn không rõ nhân thân đến nhà Nguyễn Thanh T ở Ấp 4, xã Bình Thành, huyện Đức Huệ để chơi. Tại đây, T lấy ra 01 cây đoản bằng kim loại ra mài. Sau đó, Toàn ra về, T ở lại nhà Tú và rủ Tú đến huyện Thủ thừa tìm xe mô tô để lấy trộm, Tú đồng ý. Tú điện thoại cho Nguyễn Thanh T hỏi mượn xe mô tô Sirius màu đỏ đen không rõ biển số, Tú không nói cho Toàn biết là sử dụng xe mô tô để lấy trộm tài sản. Khoảng 17 giờ cùng ngày, Tú điều khiển xe mô tô Sirius chở T mang theo 01 cây đoản kim loại để phá khóa xe mô tô, cả hai theo Quốc lộ N2 đến huyện Thủ Thừa hướng về huyện Thạnh Hóa nhưng không tìm được tài sản lấy trộm nên quay lại. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, cả hai đi đến khu vực Cầu Cá Sơn, ở Ấp 2, xã Long Thạnh, huyện Thủ Thừa thì phát hiện xe mô tô 62AG – 017.35 của anh Hà Thanh Tr đang đậu trước sân nhà. Tú và T thống nhất lấy trộm xe mô tô nói trên. Tú đậu xe ở ngoài cảnh giới, T đi bộ vào trong sân, đến gần xe mô tô đang dựng chống đứng, đẩy về phía trước khoảng 01m. Sau đó, T đá chống nghiêng để quay đầu xe ra ngoài đường thì bị ông Trọng phát hiện, truy hô. T bỏ xe ngã ra sân rồi bỏ chạy được khoảng 50m thì bị người dân bắt quả tang, riêng Tú bỏ chạy. Đến ngày 27/10/2021, Công an huyện Thủ Thừa mời Tú làm việc. Tại Cơ quan CSĐT công an huyện Thủ Thừa, Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Thanh T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 740/KL-HĐĐG ngày 27/10/2021, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thủ Thừa kết luận: Giá trị xe mô tô 62AG – 017.35 tại thời điểm ngày 22/10/2021 trị giá 7.283.500đ.
Tại Cáo trạng số 05/CT-VKS ngày 06/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa truy tố Nguyễn Ngọc T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự; Nguyễn Thanh T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Thanh T về tội “Trộm cắp tài sản”. Đại diện Viện kiểm sát phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng - giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 các điểm: h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo T từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 các điểm: h, s khoản 1 Điều 51 và điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Tú từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy cây đoản bằng kim loại hình chữ L, một đầu tròn dài 12cm, một đầu dẹp dài 11cm.
Các bị cáo không thực hiện quyền tranh luận mà xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Căn cứ vào điểm e khoản 2 Điều 260 Bộ luật tố tụng hình sự Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình điều tra, truy tố vụ án thì hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và kiểm sát viên tiến hành đúng theo các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã nêu, lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, biên bản thu giữ vật chứng và các chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa nên có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 19 giờ ngày 22/10/2021, tại Ấp 2, xã Long Thạnh, huyện Thủ Thừa, Nguyễn Ngọc T và Nguyễn Thanh T đã lén lút chiếm đoạt của anh Hà Thanh Tr xe mô tô 62Ag – 017.35 trị giá 7.283.500đ, các bị cáo đã đẩy xe dịch chuyển khoảng 1m chuẩn bị quay đầu xe lại để tẩu thoát thì bị anh Trọng phát hiện bắt giữ. Do đó hành vi của các bị cáo: Nguyễn Ngọc T và Nguyễn Thanh T đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản"quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự
Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa đã phản ánh đúng hành vi mà các bị cáo đã thực hiện, phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xác định cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi trái pháp luật của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo thực hiện do lỗi cố ý, hành vi đó không chỉ trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại mà còn gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, cần thiết phải xử lý bị cáo một hình phạt nghiêm khắc để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy trong vụ án có 02 người tham gia nhưng không có bàn bạc, phân công vai trò cụ thể của từng người nên đây là đồng phạm giản đơn, không có tổ chức.
Đối với bị cáo Nguyễn Ngọc T vào ngày 29/9/2020 bị TAND huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Trong bản án này bị cáo T đã bị áp dụng tình tiết tăng nặng là “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/5/2021 đến ngày 22/10/2021 bị cáo trực tiếp vào nhà anh Trọng để lén lút dắt xe mô tô, bị cáo tiếp tục phạm tội Trộm cắp tài sản nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự nên cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian dài để giáo dục bị cáo. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cần xem xét cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ như: sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại.
Đối với bị cáo Nguyễn Thanh T là người đã có 01 tiền án về tội Trộm cắp tài sản nhưng không nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, vào ngày 22/10/2021 bị cáo cùng thống nhất ý chí với bị cáo T là đi tìm tài sản để trộm cắp bán chia nhau tiêu xài, khi đến nhà anh Trọng bị cáo Tú đứng ngoài cảnh giới cho bị cáo T vào nhà anh Trọng thực hiện hành vi phạm tội nên cần có một hình phạt tù để giáo dục bị cáo. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cần xem xét cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ như: sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại nhưng bị cáo nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Đề nghị của ông Kiểm sát viên là có căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: tại CQĐT anh Hà Thanh Tr đã nhận lại tài sản bị mất trộm không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
Về vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện Thủ Thừa có thu giữ vật chứng gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, màu đen ghi, biển số 62AG - 017.35, dung tích xi lanh 49,5cm3. Cơ quan CSĐT Công an huyện Thủ Thừa đã trả lại cho anh Hà Thanh Tr; 01 đoản bằng kim loại hình chữ L, một đầu tròn dài 12cm, một đầu dẹp dài 11cm. Xét thấy việc CQĐT trả lại xe mô tô nói trên cho anh Hà Thanh Tr là đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với cây đoản bằng kim loại là công cụ dùng vào việc phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với Nguyễn Thanh T là người đã cho Tú mượn xe mô tô. Tuy nhiên, Tú không nói cho Toàn biết sử dụng xe vào mục đích phạm tội. Ngoài ra, qua xác minh hiện Toàn không có mặt tại địa phương. Do đó, xét thấy không đủ cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Toàn.
Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Ngọc T và Nguyễn Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58; các điểm: h, s khoản 1 Điều 51Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc T 03 (ba) năm tù. Thời gian tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ (ngày 22/10/2021) sau đó chuyển sang tạm giam.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58; các điểm: h, s khoản 1 Điều 51 và điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh T 02 (hai) năm tù. Thời gian tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ (ngày 27/10/2021) sau đó chuyển sang tạm giam.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam các bị cáo Nguyễn Ngọc T và Nguyễn Thanh T mỗi bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 15/3/2022) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 đoản bằng kim loại hình chữ L, một đầu tròn dài 12cm, một đầu dẹp dài 11cm (Vật chứng này do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 04/QĐ-VKS ngày 06/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa).
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 buộc các bị cáo Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Thanh T mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.
Án xử sơ thẩm công khai, báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 15-3-2022). Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND huyện Thủ Thừa; - Chi cục THADS huyện Thủ Thừa; - Công an huyện Thủ Thừa; - Sở tư pháp tỉnh Long An; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: Hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thanh Tuấn |