- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Q phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội: “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 09/2022/HS-ST Ngày: 21 - 01 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nam
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Ngọc Thành và ông Nguyễn Văn Mẫn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Văn Năng – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Xuyên – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 148/2021/TLST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 148/2021/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 12 năm 2021 và và Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 658/TB-TA ngày 30/12/2021, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Q, sinh năm 1991, tại Đồng Nai; nơi cư trú: Ấp 7, xã P T, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1955; vợ: Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1993; có 01 con, sinh năm 2012; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 15/4/2020, bị công an xã P T, huyện Tân Phú xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” chưa nộp phạt; nhân thân: Ngày 15/12/2021, cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Tân Phú ra Quyết định khởi tố vụ án số 03/CQĐT-ĐTTH ngày 15/12/2021 và ra Quyết định khởi tố bị can số 03/CQĐT-ĐTTH ngày 15/12/2021 về tội Trộm cắp tài sản; Hiện đang bị tạm giam trong vụ án khác (có mặt).
- Bị hại: Anh Nguyễn Đình T, sinh năm 1988, nơi cư trú: Ấp 1, xã Núi Tượng, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Tường V, sinh năm 1993, nơi cư trú: Ấp 3, xã Phú Lập, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 15/4/2020, Nguyễn Văn Q bị công an xã P T, huyện Tân Phú xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản nhưng chưa chấp hành. Khoảng 22 giờ, ngày 27/6/2021, Q đi nhậu về đến Ngã ba xã Núi Tượng thì gặp Nguyễn Tường V, sinh năm 1993, nơi cư trú: Ấp 3, xã Phú Lập, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai đang dắt xe mô tô vì xe hết xăng nên Q đẩy giúp xe của Vũ đến cửa hàng xăng dầu để đổ xăng. Sau khi đổ xăng xong, Q nhờ Vũ chở đến nhà anh Nguyễn Đình T, sinh năm 1988, nơi cư trú: Ấp 1, xã Núi Tượng, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai để lấy trộm tài sản. Khi biết ý định của Q là vào anh T để trộm cắp tài sản thì Vũ đã can ngăn nhưng Q không nghe. Đến khoảng 23 giờ 15 phút, Q vào nhà anh T, còn Vũ đứng đợi ở ngoài đường. Khi vào nhà, Q đã lấy trộm của anh T một xe đạp mini hiệu LAUBIKE màu đỏ, trị giá 1.250.000 đồng. Q lấy được xe đạp đưa ra ngoài và ngồi lên xe mô tô của Vũ đang chờ sẵn và Vũ chở Q về nhà Q cất xe đạp. Sau khi phát hiện bị mất xe đạp. Anh T kiểm tra camera phát hiện ra Q đã trộm cắp tài sản của mình và trình báo đến cơ quan công an. Trong quá trình điều tra, Q đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 24/KL.HĐĐGTS ngày 09/9/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tân Phú kết luận: 01 (một) xe đạp mini hiệu LAUBIKE, trị giá tài sản là 1.250.000đ (Một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).
Cáo trạng số: 142/CT-VKSTP-ĐN ngày 30/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, truy tố bị cáo về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Trên cơ sở phân tích dấu hiệu phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố:
Về tội danh: Bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Về mức hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 khoản Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Q từ 10 (mười) đến 12 (mười hai) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe đạp mini hiệu LAUBIKE màu đỏ đã trao trả lại cho chủ sở hữu.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Nội dung lời khai của những người tham gia tố tụng trong hồ sơ vụ án:
- Lời khai của bị cáo Nguyễn Văn Q trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận nội dung của Bản cáo trạng là đúng sự thật; bị cáo không có ý kiến tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Lời khai của bị hại: Hành vi của bị cáo chiếm đoạt tài sản của bị hại đúng như Kết luận điều tra và Cáo trạng đã mô tả. Tài sản bị mất đã nhận lại nên không yêu cầu bồi thường gì thêm và đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.
- Lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Nguyễn Tường V: Khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 27/6/2021, anh gặp Q thì Q đẩy giúp xe của anh đến cửa hàng xăng dầu để đổ xăng. Sau khi đổ xăng, Q nhờ anh chở đi vào đường N T – P X đến nhà anh T thì Q nói anh dừng xe lại. Sau khi biết được ý định của Q là vào trộm tài sản thì anh đã ngăn cản nhưng Q không chịu và nói có gì thì Q chịu trách nhiệm. Anh đứng đợi ngoài đường, còn Q vào trong nhà anh T và lấy trộm được 01 xe đạp mini đưa ra ngoài đường và anh chở Q và xe đạp về nhà Q để Q cất giấu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tại phiên tòa, bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác. Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến khiếu nại về hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án nhưng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án và không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
. Về trách nhiệm hình sự:
. Xét về hành vi phạm tội:
Bị cáo Nguyễn Văn Q thừa nhận: Ngày 15/4/2020, Nguyễn Văn Q bị công an xã P T, huyện Tân Phú xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản nhưng chưa chấp hành. Ngày 27/6/2021, tại Ấp 1, xã Núi Tượng, huyện Tân Phú, Nguyễn Văn Q đã lén lút chiếm đoạt của anh Nguyễn Đình T 01 (một) xe đạp mini hiệu LAUBIKE màu đỏ, trị giá 1.250.000đ (Một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng, kết luận định giá và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Hành vi do bị cáo thực hiện có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội danh mà Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai truy tố theo điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
. Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nó không chỉ trực tiếp xâm phạm tài sản của người bị hại được pháp luật bảo vệ, mà còn gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Do đó phải xử lý bị cáo theo pháp luật hình sự là cần thiết nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội. Cần tuyên mức án tương xứng với hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây ra nhằm giáo dục, răn đe bị cáo trở thành công dân tốt có ích và đảm bảo công tác phòng ngừa tội phạm tại địa phương.
. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gây thiệt hại không lớn, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Về nhân thân: Trong quá trình được tại ngoại để điều tra, bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi hành vi trộm cắp tài sản và bị Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Tân Phú ra Quyết định khởi tố vụ án số 03/CQĐT-ĐTTH ngày 15/12/2021 và ra Quyết định khởi tố bị can số 03/CQĐT-ĐTTH ngày 15/12/2021 về tội Trộm cắp tài sản.
Tòa án mở phiên tòa xét xử công khai vụ án nhằm xử lý hành vi phạm tội của bị cáo và tuyên truyền, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật của công dân, góp phần phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm trong xã hội.
. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) xe đạp mini hiệu LAUBIKE màu đỏ đã trao trả lại cho chủ sở hữu là đúng pháp luật nên không xem xét.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không xem xét.
. Về các vấn đề khác: Đối với anh Nguyễn Tường V chưa có tiền án, tiền sự nhưng có hành vi giúp sức cho bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên đã bị công an xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản.
. Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ
thẩm là 200.000 đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
. Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát về việc đánh giá tính chất mức độ, hành vi phạm tội và hình phạt tù của bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận nhưng đề xuất mức hình phạt là có phần nghiêm khắc.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm a, khoản 1 Điều 173; điểm i, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015.
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội: “Trộm cắp tài sản”
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Q 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi chấp hành án hình phạt tù.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 292; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày niêm yết Bản án theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Tân Phú; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - Công an huyện Tân Phú; - Chi cục THADS huyện Tân Phú; - Những người tham gia tố tụng; - Hồ sơ THA; Lưu HS, LT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Văn Nam |