- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ng Văn T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2022/HS-ST Ngày: 17-5-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Thùy Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Xuân Chính
Bà Hồ Thị Út Lùng
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thành Công – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Năm Căn
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Năm Căn tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Cảnh - Kiểm sát viên
Ngày 17 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2022/TLST-HS ngày 18 tháng 4 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2022/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn T; sinh năm 1993; nơi cư trú: Ấp X, xã L, huyện N, tỉnh C .; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn Danh và bà: Phạm Thị Tuyết; chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 06/8/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 12 tháng, chấp hành xong ngày 07/6/2019.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/3/2022; tạm giam từ ngày 10/3/2022 cho đến nay.
Bị cáo bị tạm giam có mặt tại phiên tòa.
Các bị hại:
- Ông Phạm Văn B, sinh năm 1966; Địa chỉ: Ấp X, xã L, huyện N, tỉnh C ..
- Bà Ngô Thị D, sinh năm 1984; Địa chỉ: Ấp X, xã L, huyện N, tỉnh C ..
- Ông Võ Văn Q, sinh năm 1950; Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện N ., tỉnh Cà Mau.
Bị hại đều có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ ngày 28/02/2022, Nguyễn Văn T đi bộ từ nhà ở ấp Xẻo Sao, xã Lâm Hải, huyện Năm Căn đến thị trấn Năm Căn. Khi đi ngang nhà ông Lê Văn Gay ở cùng ấp thì Tươi phát hiện 01 xe mô tô hiệu Star màu xanh, biển số 69F5-0566 của ông Phạm Văn B đậu gần cống vuông của ông Gay, nên Tươi nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Tươi lén lút dẫn xe ra lộ đi được một đoạn rồi khởi động nhưng xe không nổ máy, Tươi tiếp tục dẫn xe đi đến nhà của bà Ngô Thị D cách đó 105 mét, Tươi nhìn thấy nhà chưa đóng cửa nên Tươi lẻn vào nhà bà D chiếm đoạt 01 điện thoại SamSung A6 màu xanh, 01 điện thoại SamSung J7 màu đen và 01 nhẫn vàng 18K, Tươi cất giấu vào túi quần thì bị bà D phát hiện truy hô nên Tươi bỏ chạy trốn. Sau đó ông Huỳnh Văn Thuận chồng bà D trình báo Công an xã Lâm Hải và cùng người dân truy đuổi, Tươi chạy về hướng hậu vuông rồi đi vòng xuống lộ xe đi về hướng thị trấn Năm Căn. Khi đi đến chòi vuông ông Võ Văn Q cũng ở ấp Xẻo Sao cách đó 1.100 mét thì Tươi tiếp tục lấy 01 cây búa đóng đinh và 01 thùng nhựa màu xanh, Tươi đi đến nhà ông Huỳnh Văn Công cách chòi vuông ông Q 100 mét thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang.
Tại Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số: 02/KL-HĐĐG ngày 07/3/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện Năm Căn kết luận:
- 01 xe mô tô hiệu Star màu xanh, dung tích xi lanh 110cm3, biển kiểm soát 69F5-0566, không xác định thời gian mua, hiện trạng hư hỏng nhiều bộ phận, đã qua sử dụng nay giá trị thực tế còn lại là 1.566.000 đồng.
- 01 điện thoại di động hiệu SamSung A6 màu xanh, còn 50% giá trị sử dụng, giá trị thực tế là 1.616.500 đồng.
- 01 nhẫn vàng 18K, trọng lượng 0,73 chỉ, giá trị 2.606.100 đồng.
Còn lại 01 điện thoại di động hiệu SamSung J7 màu đen bị hư hỏng nặng không còn giá trị sử dụng; 01 thùng nhựa màu xanh loại 8 lít đã bị hỏng phần đáy; 01 cây búa đóng đinh dài 31cm không còn giá trị sử dụng và không đủ thông tin về nhãn hiệu, loại nên Hội đồng thống nhất không định giá.
Tổng giá trị tài sản được xác định là: 5.788.600 đồng.
Tài sản là 01 điện thoại di động SamSung A6, 01 điện thoại SamSung J7 màu đen bị hư hỏng và 01 nhẫn vàng 18K trọng lượng 0,73 chỉ sau khi thu hồi đã trả lại cho bà Ngô Thị D. Trả lại ông Phạm Văn B 01 xe mô tô hiệu Star màu xanh biển kiểm soát 69F5-0566. Trả lại cho ông Võ Văn Q 01 thùng nhựa xanh hư hỏng phần đáy và 01 cây búa đóng đinh dài 31cm, cán bằng gỗ, đầu búa kim loại dài 10cm.
Tại bản cáo trạng số: 09/CT-VKS ngày 18 tháng 4 năm 2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện Năm Căn truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù; tài sản đã giao trả cho các bị hại, các bị hại không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên không đặt ra xử lý.
- Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Năm Căn đã truy tố. Bị cáo không ý kiến tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Năm Căn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Năm Căn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp và đúng theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở kết luận: Vào đêm ngày 28/02/2022, Nguyễn Văn T đã trộm cắp tài sản, cụ thể: 01 xe mô tô hiệu Star màu xanh, biển số 69F5-0566 của ông Phạm Văn B; 01 điện thoại SamSung A6 màu xanh, 01 điện thoại SamSung J7 màu đen và 01 nhẫn vàng 18K trọng lượng 0,73 chỉ của bà Ngô Thị D; 01 cây búa đóng đinh và 01 thùng nhựa màu xanh ông Võ Văn Q. Tổng giá trị tài sản Nguyễn Văn T lấy trộm là 5.788.600 đồng.
Trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Như vậy, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Cho nên, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Năm Căn truy tố bị cáo Nguyễn Văn T là có căn cứ pháp luật, đúng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo không chỉ vi phạm pháp luật mà còn làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự xã hội tại địa phương, gây tâm lý lo âu cho người dân trong việc quản lý tài sản của mình. Bị cáo nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, nhưng vì lười lao động, muốn có tiền tiêu xài mà vẫn cố tình phạm tội nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự trước pháp luật.
Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; nhưng tại phiên tòa, bị cáo có ý thức bất chấp pháp luật nên cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo và ngăn ngừa, đấu tranh tội phạm.
Bị cáo làm thuê nên không áp dụng biện pháp phạt tiền đối với bị cáo.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên được chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu trách nhiệm dân sự đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về xử lý vật chứng: Tài sản đã được giao trả lại cho bị hại nên không đặt ra xem xét.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Quyền kháng cáo: Những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, vắng mặt tính từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/3/2022.
Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng.
Án xử sơ thẩm công khai bị cáo Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Ngô Thị D, ông Phạm Văn B, ông Võ Văn Q có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - Sở tư pháp; - Tòa án tỉnh Cà Mau; - Công an huyện Năm Căn; - VKSND huyện Năm Căn; - Chi cục THADS huyện Năm Căn; - Những người tham gia TT; - Lưu HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Thùy Linh |