vanban.org

Bản án 09/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai Tuyên án 12/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Bách H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH quy định về án phí lệ phí Tòa án Buộc bị cáo Nông Bách H chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn) tiền án phí Hình sự sơ thẩm. Quyền kháng cáo bản án: Bị cáo Nông Bách H và Người có q… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông Bách H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Bách H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 91 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN
MƯỜNG KHƯƠNG
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2022/HS-ST
Ngày 12-7-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYÊN MƯỜNG KHƯƠNG, TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Hải Quân.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lồ Củi Thủy.

Ông Lê Xuân Chính.

-Thư ký phiên tòa: Ông Giàng Mạnh Vàng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 06/2022/HSST, ngày 31 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2022/QĐXX - HS, ngày 27/6/2022 đối với bị cáo:

Nông Bách H, sinh ngày 10/11/2005 sinh tại xã Bản Lầu,huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai; Nơi cư trú tại: Thôn X, xã Bản Lầu, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 5/12; Dân tộc: Nùng; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; con ông Nông Xuân K sinh năm 1982 và bà Hoàng Thị H sinh năm 1981 (Đã chết năm 2019). Anh K cư trú tại thôn X, xã Bản Lầu, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai. Chỗ ở hiện nay: thôn L, xã Thanh Bình, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai. Tiền án: Không, tiền sự : Bị cáo có 02 tiền sự. Ngày 26/8/2021 thực hiện hành vi Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản bị Công an xã Bản Lầu, huyện Mường Khương xử phạt bằng hình thức cảnh cáo. Ngày 16/08/2021 bị cáo thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” Công an xã Bản Sen xử phạt cảnh cáo.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 24/4/2022, tạm giam từ ngày 30/4/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Mường Khương. Có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Nông Bách H: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền, Trợ giúp viên, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lào Cai, (Có đơn xét xử vắng mặt).

Người bị hại:

1.Anh Dương Văn T sinh năm 1995; Địa chỉ: Thôn X, xã Bản Lầu, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.

2. Anh Dương Xuân C sinh năm 1985; Địa chỉ: Thôn X,xã Bản Lầu , huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.

Người có quyền lợi và nhĩa vụ liên quan:

1. Anh Đặng Văn Q sinh năm 1986; Địa chỉ: số nhà x, đường Lương Khánh T, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Có mặt.

2. Anh Nguyễn Văn H sinh năm 1977; Địa chỉ: số nhà 0 Ngõ 1, Tổ x phường Duyên Hải, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.

Người làm chứng:

1. Anh Hù Văn V sinh năm 1986; Địa chỉ: thôn Đ, xã Lùng Vai, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.

2. Anh V Văn H sinh năm 1981; Địa chỉ: thôn X 2, xã Bản Lầu, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.

3. Anh Trương Thế M; Địa chỉ: thôn X, xã Bản Lầu, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.

4. Chị Lê Thị H sinh năm 1979; Địa chỉ: số nhà 360 đường Nhạc Sơn, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.

5. Anh Đặng Viết U sinh năm 1985; Địa chỉ: thôn X 2, xã Bản Lầu, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 19/4/2022, Nông Bách H trú tại thôn X, xã Bản Lầu, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai đến nhà anh Dương Văn T chơi. Sau đó H đi ra ngoài sân thì thấy chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA Wave RSX, biển kiểm soát 24B2-251.37 màu đen - trắng của anh Dương Văn T đang dựng ở ngoài sân, chìa khóa vẫn đang cắm trên ổ khóa điện. H đã nảy sinh ý định trộm cắp xe máy của anh T mang đi bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. H liền ngồi lên xe máy của anh T rồi điều kH xe máy đi thẳng xuống thành phố Lào Cai và thuê một phòng nghỉ tại nhà nghỉ Khánh Hà, phường Lào Cai, thành phố Lào Cai. Đến sáng ngày 20/4/2022, H đi xuống sảnh nhà nghỉ Khánh Hà thì H gặp anh Đặng Văn Q trú tại Số nhà 295, đường Lương Khánh Thiện, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai. H nói muốn cắm chiếc xe máy cho Q với giá 6.000.000 đồng. Do anh Q cũng đang cần phương tiện để đi lại nên sau khi anh Q kiểm tra có giấy tờ xe đầy đủ đã đồng ý. Sau khi nhận tiền xong, H lấy một số giấy tờ cá nhân ở trong cốp xe trộm cắp được của anh T gồm 02 thẻ ngân hàng, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe máy, 01 căn cước công dân; 01 giấy phép lái xe đi về nhà anh Nguyễn Văn H trú tại số nhà 025, ngõ 176, phường Duyên Hải, thành phố Lào Cai (là người quen của H) chơi và cất giấu số giấy tờ trên ở dưới gối giường trong phòng ngủ. Sau đó, H đã dùng số tiền cắm chiếc xe máy trộm cắp được để tiêu sài cá nhân hết. Sau khi bị mất xe máy anh Dương Văn T có đơn trình báo Công an xã Bản Lầu, huyện Mường Khương và có nghi cho Nông Bách H trộm cắp. Ngày 24/4/2022, H bị bắt khẩn cấp qua test thử nhanh nước tiểu kết quả dương tính với ma túy.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra mở rộng điều tra vụ án xác định: Ngoài hành vi trộm cắp chiếc xe máy của anh Dương Văn T ngày 19/4/2022. Ngày 13/02/2022 Nông Bách H còn thực hiện hành vi trộm cắp 01 (một) chiếc xe máy của anh Dương Xuân C trú tại thôn X, xã Bản Lầu, Mường Khương, Lào Cai, xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen - đỏ, biển kiểm soát 24V1-050.47. Sau đó H tháo biển số xe ra rồi cất giấu vào cốp xe để tránh bị phát hiện rồi điều kH xe đến nhà chị Lê Thị H trú tại số nhà 360, đường Nhạc Sơn, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai (là người thu mua phế liệu) để hỏi bán xe, nhưng do không có giấy tờ đăng ký xe và biển số xe nên chị H không mua. H đã dắt xe máy ra ngoài đường thì thấy có 03 người đàn ông (H không biết tên tuổi địa chỉ) đi một chiếc xe ô tô tải màu xanh đỗ ở cạnh đường trước cửa nhà chị H. Thấy 03 người này, H đã hỏi bán chiếc xe máy thì 03 người này đồng ý và thỏa thuận với H mua chiếc xe máy với giá 1.300.000 đồng, số tiền do bán xe mà có Nông Bách H đã tiêu sài cá nhân hết.Tại cơ quan điều tra, Nông Bách H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

* Tại Bản kết luận định giá tài sản số 04 ngày 27/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện Mường Khương kết luận: 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, loại Wave RSX màu đen trắng, biển kiểm soát 24B2-251.73 đã qua sử dụng có trị giá là: 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng) và Bản Kết luận định giá tài sản số 06 ngày 18/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện Mường Khương kết luận: 01(một) chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, loại Sirius màu đen đỏ, số khung: DY749397, số máy: 3-749468, biển kiểm soát 24V1-050.47, xe cũ đã qua sử dụng có trị giá là: 5.200.000 đồng (năm triệu hai trăm nghìn đồng). Tổng cộng cả 02 xe máy trị giá: 11.200.000 đồng (Bằng chữ: Mười một triệu hai trăm nghìn đồng chẵn).

Bản Cáo trạng số 06/CT -VKS ngày 30 tháng 5 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Nông Bách H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào cai giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nông Bách H phạm tội: “ Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng Khoản 1 điều 173 điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 91; khoản 4 Điều 98; Điều 101của Bộ luật hình sự. Tuyên phạt bị cáo Nông Bách H từ 09 (chín) tháng đến 01(Một) năm tù.

- Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có tài sản riêng và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 điều 173 của Bộ luật hình sự.

- Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, loại Sirius màu đen đỏ của anh Dương Xuân C đã tiến hành truy tìm, xác minh nhưng đến nay chưa xác định được nên cơ quan điều tra không thu giữ được. nên không đề cập giải quyết.

- Đối với anh Nguyễn Văn H: Việc Nông Bách H đã đem theo một số giấy tờ tùy thân của bị hại và tài sản bị trộm cắp đến cất giấu ở tại nhà anh H, anh H không biết việc H đã cất giấu những đồ vật, tài sản trên ở nhà anh H. Sau khi được Cơ quan điều tra thông báo mới biết H trộm cắp cất giấu số tài sản trên, anh H đã tự nguyện giao nộp lại cho Cơ quan điều tra. Do vậy không đề cập xử lý là phù H.

- Đối với 03 người đàn ông (không rõ tên tuổi địa chỉ) mua chiếc xe máy do bị can trộm cắp của anh Dương Xuân C. Cơ quan điều tra đã tổ chức điều tra, xác minh nhưng đến nay chưa xác định được là ai. Khi nào xác minh làm rõ được những đối tượng trên sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

- Về dân sự: Người bị hại là anh Dương Văn T và anh Dương Xuân C sau khi nhận lại tài sản là xe máy và một số giấy tờ không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì nên không xem xét giải quyết.

- Đối với anh Đặng Văn Q là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Q là người đã nhận cắm chiếc xe máy cho H với giá 6.000.000 đồng, khi H cắm chiếc xe máy nhưng anh Q không biết chiếc xe máy trên do H trộm cắp mà có. Tại cơ quan điều tra, anh Q không yêu cầu bị cáo H phải bồi thường số tiền trên và tại phiên tòa hôm nay anh Q xét thấy bị cáo điều kiện kinh tế khó khăn nên đã cho số tiền trên. nên không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật hình sự. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, tuyên án phí đối với bị cáo.

Người bào chữa bà Nguyễn Thị Thu Hiền vắng mặt nhưng gửi bản bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Nông bách H với các lý do như sau: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu vùng xa sự nhận thức về pháp luật của bị cáo còn nhiều hạn chế. Bị cáo Nông Bách H sau khi phạm tội bị cáo có T độ thành khẩn khai báo, phạm tội gây thiệt hại không lớn, hơn nữa khi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên. Nên đề nghị hội đồng xét xử Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 91,98,101 của Bộ Luật hình sự đề nghị tuyên phạt Nông Bách H với mức án 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt 06 tháng tù mà người bào chữa đề nghị cho bị cáo H là thấp vì bị cáo H có 02 tiền sự và phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Vì vậy Hội đồng xét xử đồng quan điểm với mức hình phạt mà vị Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Khương đề nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về thủ tục tố tụng : Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường Khương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Khương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều H pháp.

.Về thẩm quyền: Tội phạm xảy ra và bị phát hiện tại huyện Mường Khương do đó vụ án thuộc thẩm quyền tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai.

. Về nội dung vụ án: Qua lời khai của bị cáo tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua kết quả tranh luận tại phiên tòa, từ đó đủ cơ sở xác định:

Tại phiên toà bị cáo Nông Bách H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã được tóm tắt ở phần trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù H với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù H với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, thành khẩn khai báo. Đã có đủ căn cứ khẳng định: Ngày 19 tháng 04 năm 2022, bị cáo Nông Bách H đến nhà anh Dương Văn T thấy chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA Wave RSX, biển kiểm soát 24B2-251.37 màu đen - trắng của anh Dương Văn T đang dựng ở ngoài sân, chìa khóa vẫn đang cắm trên ổ khóa điện. H đã nảy sinh ý định trộm cắp xe máy của anh T mang đi bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. sau đó bị cáo mang ra Thành phố Lào Cai bán cho anh Q ở phường Cốc Lếu với giá 6.000.000 đồng. Chiếc xe máy mà H trộm cắp Hội đồng định giá là 6.000.000 đồng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo H khai Ngày 13/02/2022 còn thực hiện hành vi trộm cắp 01 (một) chiếc xe máy của anh Dương Xuân C trú tại thôn X, xã Bản Lầu, Mường Khương, Lào Cai, xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen – đỏ, biển kiểm soát 24V1-050.47. bán cho 03 người đàn ông (không biết tên và địa chỉ) với giá 1.300.000 đồng, H đã tiêu sài cá nhân hết. Hội đồng định giá chiếc xe máy có giá trị là 5.200.000 đồng. Tổng cộng cả 02 chiếc xe máy mà Hội đồng định giá có tổng trị giá là 11.200.000 đồng Hành vi của bị cáo Nông Bách H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Nông Bách H ra trước toà về tội “Trộm cắp tài sản " theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Cáo trạng số 06/CT - VKS ngày 30/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Nông Bách H về tội danh và điều luật như viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Về tính chất nguy hiểm của hành vi: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân và ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Do đó, phải xử phạt bị cáo nghiêm minh và tuyên mức án tương xứng với tính chất và mức độ do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra.

Xét thấy, bị cáo Nông Bách H là người có nhân thân xấu, có 02 tiền sự. Ngày 26/8/2021 thực hiện hành vi Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản bị Công an xã Bản Lầu, huyện Mường Khương xử phạt bằng hình thức cảnh cáo. Ngày 16/08/2021 bị cáo thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” Công an xã Bản Sen xử phạt cảnh cáo. Bị cáo không lấy đó làm bài học mà còn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo H có một tình tiết tăng nặng phạm tội hai lần trở lên vì vậy cần áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Do đó cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Sau khi phạm tội quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình bị cáo có T độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tài sản sản trộm cắp không lớn, tài sản trộm cắp đã được thu hồi và trả cho chủ sở hữu, khi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được qui định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 91; khoản 4 Điều 98; Điều 101 của Bộ luật hình sự. được Hội đồng xét xử áp dụng khi quyết định hình phạt đối với bị cáo và giảm nhẹ cho bị cáo 1 phần hình phạt thể hiện chính sách kHn hồng của pháp luật đối với người phạm tội.

.Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có tài sản gì, nên không áp dụng khoản 5 điều 173 và khoản 5 Điều 323Bộ luật hình sự là không cần thiết, nên không áp dụng.

.Về vật chứng: - Xác nhận biên bản trao trả tài sản ngày 24/5/2022 của Cơ quan điều tra đã trả cho anh Dương Văn T 01chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, loại Wave RSX màu đen trắng, biển kiểm soát 24B2-251.73 và các giấy tờ liên quan gồm: 02 thẻ ngân hàng, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe máy, 01 Căn cước công dân; 01 giấy phép lái xe.

- Xác nhận biên bản trao trả tài sản ngày 24/5/2022 của Cơ quan điều tra đã trả cho anh Dương Xuân C 01 biển kiểm soát 24V1-050.47 và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Triệu Nguyễn Lai .

- Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, loại Sirius màu đen đỏ của anh Dương Xuân C đã tiến hành truy tìm, xác minh nhưng đến nay chưa xác định được nên cơ quan điều tra không thu giữ được. nên hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

- Đối với anh Nguyễn Văn H: Việc Nông Bách H đã đem theo một số giấy tờ tùy thân của bị hại và tài sản bị trộm cắp đến cất giấu ở tại nhà anh H, anh H không biết việc H đã cất giấu những đồ vật, tài sản trên ở nhà anh H. Sau khi được Cơ quan điều tra thông báo mới biết H trộm cắp cất giấu số tài sản trên, anh H đã tự nguyện giao nộp lại cho Cơ quan điều tra. Do vậy không đề cập xử lý là phù H.

- Đối với 03 người đàn ông (không rõ tên tuổi địa chỉ) mua chiếc xe máy do bị can trộm cắp của anh Dương Xuân C. Cơ quan điều tra đã tổ chức điều tra, xác minh nhưng đến nay chưa xác định được là ai. Khi nào xác minh làm rõ được những đối tượng trên sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

.Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là anh Dương Văn T và anh Dương Xuân C sau khi nhận lại tài sản là xe máy và một số giấy tờ không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với anh Đặng Văn Q là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Q là người đã nhận cắm chiếc xe máy cho H với giá 6.000.000 đồng, khi H cắm chiếc xe máy anh Q không biết chiếc xe máy trên do H trộm cắp mà có. Quá trình làm việc tại Cơ quan điều tra anh không yêu cầu bồi thường gì. Tại phiên Tòa hôm nay anh Q xét thấy H không có tài sản gì nên anh đã cho H số tiền trên không yêu cầu bị cáo H phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

.Về án phí: : Bị cáo Nông Bách H phải chịu án phí theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số :326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Bách H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ Khoản 1 điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Khoản 1 Điều 91; khoản 4 Điều 98; Điều 101 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nông Bách H 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 24 tháng 4 năm 2022.

2.Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH quy định về án phí lệ phí Tòa án Buộc bị cáo Nông Bách H chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo bản án: Bị cáo Nông Bách H và Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Đặng Văn Q có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại Anh Dương Văn T, Dương Xuân C, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định tại khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Cỡ chữ