vanban.org

Bản án 09/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 22/03/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn H 06 (Sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án. Án phí: Buộc bị cáo Hoàng Văn H chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂNDÂN HUYỆN HẬU LỘC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Tỉnh Thanh Hóa

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2022/HS-ST
Ngày 22/3/2022.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thị Nga.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phan Văn Lâm

Bà Trương Thị Hà

Thư ký phiên tòa: Bà Nguy n Thị Hường - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc tham gia phiên tòa:

Bà Nguy n Thụy Cầm - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 3 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 10/2022/TLST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2022/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 3 năm 2022 đối với:

Bị cáo Hoàng Văn H; sinh ngày 05/6/1981 tại huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn M, xã M, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Công S và bà Trần Thị C; chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 04/6/2021 bị Công an xã H xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản. Nhân thân: Ngày 10/11/2016 bị Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 15/4/2018 chấp hành xong hình phạt tù; bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Bà Đỗ Thị S, sinh năm 1960. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Hoàng Công S, sinh năm 1954. Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn M, xã M, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và di n biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14h ngày 14/11/2021, Hoàng Văn H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36Y1-3379 đi chơi, khi đến thôn K, xã H, huyện H, H thấy cổng nhà bà Đỗ Thị S không khóa, không thấy người qua lại nên H đã nãy sinh ý định trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu sài. H dừng xe đi lại phía cổng, dùng tay nhấc cánh cổng làm bằng kim loại bên phải theo hướng từ ngoài đường nhìn vào trong cổng ra khỏi bản lề, sau đó đặt cánh cổng để lên yên xe mô tô và ngồi đè lên, rồi điều khiển xe đi bán sắt vụn. Khi đi đến đoạn đường gần nhà máy nước sạch thuộc xã H, cánh cổng bị rơi xuống mặt đường. H dừng xe, lúc này có một người đàn ông (H không quen biết) khoảng 50 đến 60 tuổi đi lại giúp H đặt cánh cổng lên yên xe, người đàn ông hỏi H cánh cổng ở đâu mà chở đi, H nói là cánh cổng của nhà mình, vì thay cánh cổng mới nên mang đi bán sắt vụn. Người này ngỏ ý muốn mua lại cánh cổng, H đồng ý bán với số tiền là 230.000 đồng. Sau khi nhận đủ tiền H tiếp tục điều khiển xe đi về xã M dùng số tiền trên để đổ xăng và mua đồ ăn hết.

Bà Đỗ Thị S phát hiện gia đình mình bị mất trộm một cánh cửa bằng kim loại nên đã đến Công an xã H trình báo sự việc. Công an xã H đã tiến hành xác minh, trích xuất camera các hộ dân xung quanh hiện trường, thu thập tài liệu, chứng cứ, xác định đối tượng nghi vấn là Hoàng Văn H. Quá trình xác minh H đã khai nhận hành vi trộm cắp tài sản trên. Công an đã tạm giữ xe môtô biển kiểm soát 36Y1-3379, sau đó chuyển cho cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện H để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 54/KL-HĐĐGHS ngày 29/11/2021 của Hội đồng định giá kết luận: 01 cánh cổng bằng kim loại dạng hình chử nhật, sơn màu xanh lá cây, phía trên cánh cổng có gắn các thanh kim loại sơn màu vàng, kích thước 1mx 1,7m trị giá 1.000.000 đồng.

Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36Y1-3379 do Hoàng Văn H sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội là của ông Hoàng Công Sảo (Bố đẻ Hải) ông Sảo không biết việc H dùng chiếc xe để trộm cắp tài sản. Ngày 24/12/2021 cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trả lại chiếc xe cho ông Hoàng Công S.

Cáo trạng số 10/CT-VKSHL ngày 24/02/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Hoàng Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, kiểm sát viên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật nêu trên và sau khi đánh giá tính chất vụ án, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1,2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản” và áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù.

Về án phí: Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng đã truy tố, đồng ý với luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa và lời nói sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hậu Lộc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 14h ngày 14/11/2021, Hoàng Văn H lén lút trộm cắp của gia đình bà Đỗ Thị S 01 cánh cổng bằng kim loại dạng hình chữ nhật, sơn màu xanh lá cây, phía trên cánh cổng có gắn các thanh kim loại sơn màu vàng, kích thước 1m x 1,7m.

Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 54/KL-HĐĐGHS ngày 29/11/2021 của Hội đồng định giá kết luận: 01 cánh cổng bằng kim loại dạng hình chữ nhật, sơn màu xanh lá cây, phía trên cánh cổng có gắn các thanh kim loại sơn màu vàng, kích thước 1m x 1,7m trị giá 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).

Bị cáo Hoàng Văn H đã thực hiện hành vi trộm cắp với giá trị tài sản chưa đủ 2.000.000 đồng nhưng ngày 04/6/2021 bị cáo đã bị Công an xã H, huyện H xử phạt hành chính mức tiền phạt 1.000.000 đồng về hành trộm cắp tài sản mà còn vi phạm nên đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm, hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất của vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp của công dân được Nhà nước bảo vệ, xâm phạm đến trật tự trị an, an toàn xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Với động cơ tư lợi muốn hưởng thụ trên thành quả lao động của người khác, bị cáo lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu, đã chiếm đoạt tài sản, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội. Do đó phải xử lý nghiêm, có hình phạt phù hợp nhằm giáo dục bị cáo và giáo dục chung cho xã hội.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại, người bị hại có đơn đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1,2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo có đã có tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản nên khi quyết định hình phạt cần xem xét đối với bị cáo và cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo nghề nghiệp không ổn định, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về bồi thường thiệt hại: Tài sản mà bị cáo chiếm đoạt đã tự nguyện bồi thường cho bị hại, người bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

Về án phí: Bị cáo là người bị kết án và không thuộc trường hợp mi n án phí nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1,2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn H 06 (Sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

Án phí: Buộc bị cáo Hoàng Văn H chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thi người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6 ,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Cỡ chữ