- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đam - Trộm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn N. Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 09/2022/HS-ST Ngày: 21/01/2022 |
HUYỆN HÀM THUẬN BẮC Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đặng Văn Minh. 2. Bà Trần Thị Kim Trang. - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận. - Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Hiệp – Kiểm sát viên. Ngày 21 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 147/2021/HSST ngày 27/10/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 149/2021/QĐXXST-HS ngày 22/11/2021; Quyết định Hoãn phiên tòa số 27/2021/HSST-QĐ ngày 06/12/2021; Thông báo Hoãn phiên tòa số 01/2022/HSST-TB ngày 05/01/2022 đối với bị cáo: NGUYỄN N. Đ– Sinh năm 1997; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Bình Thuận; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Khu phố P, thị trấn P, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Cha: Nguyễn Ng, sinh năm 1969; Mẹ: Nh, sinh năm 1970. Cả hai hiện đang sinh sống tại: Khu phố P, thị trấn P, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận. Gia đình có 02 anh em, bị cáo Đ là con lớn nhất. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo Nguyễn N. Đ hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hàm Thuận Bắc trong một vụ án khác. Bị hại: 1/ Phạm Văn T– sinh năm 1965; 2/ Nguyễn Quốc H– sinh năm 1982. Cùng địa chỉ: Thôn 6, xã H, huyện Hàm T, tỉnh Bình Thuận. Tất cả bị hại vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 1/ Phạm Thị Ng– sinh năm 1980 Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận; 2/ Nguyễn Ánh Ng– sinh năm 1992. Địa chỉ: Khu phố P, thị trấn P, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận; 3/ Nguyễn Hữu C– sinh năm 1978. Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện Hàm Thuận N, tỉnh Bình Thuận; 4/ Nguyễn Ng – sinh năm 1969. Địa chỉ: Khu phố P, thị trấn P, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận; 5/ Trương Trung K– sinh năm 1998. Địa chỉ: Khu phố Phú Th, thị trấn P, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận. Tất cả người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 19 giờ đầu tháng 5/2021 (không nhớ rõ ngày), Nguyễn N. Đ, sinh năm 1997, ở Khu phố P, thị trấn P, huyện Hàm Thuận Bắc mượn xe mô tô (không nhớ biển số) của người tên “Công” (quen biết ngoài xã hội, không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) đi đến vườn thanh long của ông Phạm Văn Thân, sinh năm 1965, ở Thôn 6, xã H, huyện Hàm T để lấy trộm dây điện (“Công” không biết Đ lấy xe đi trộm cắp theo lời khai của Đ), Đ quan sát thấy có 02 đoạn dây điện trông đèn thanh long sau khi rút bóng chưa kịp cất còn để trong vườn nên lén lút đi tới dùng tay rút được 02 đoạn dây điện nhãn hiệu Cadivi, lõi đồng đơn, mỗi đoạn dài 100m bỏ vào bao tải nhặt được gần đó. Đ đem số dây điện này tới chân cầu Phú Long đốt lấy lõi đồng bỏ lại vào bao tải rồi đi tới nhà Nguyễn Ánh Nguyệt, sinh năm 1992, ở khu phố Phú Thành, thị trấn Phú Long nhờ Nguyệt chở đến vựa ve chai của bà Phạm Thị Ngở gần Cầu Nhôm, thuộc xã Hàm Thắng, huyện Hàm Thuận Bắc. Đ bán số dây đồng trên cho bà Nga được số tiền 450.000 đồng (Nguyệt và Nga không biết đây là tài sản do Đ phạm tội mà có). Đến khoảng 00 giờ 45 phút, ngày 19/6/2021, Nguyễn N. Đ đi bộ dọc theo đường Quốc lộ 1A hướng từ thị trấn Phú Long đi xã Hàm Đức để tìm nhà dân nào có tài sản sơ hở thì trộm cắp. Khi đến xưởng gạch “Minh Phương”, ở Thôn 6, xã H, huyện Hàm T, Đ trèo qua hàng rào lưới B40 vào trong xưởng gạch nhìn thấy anh Nguyễn Quốc Hùng, sinh năm 1982, ở thôn 6, xã Hàm Đức đang nằm ngủ ở trên giường, bên cạnh có để 01 cái loa nghe nhạc Bluetooth và xe mô tô, biển số 86B3 - 044.83 có cắm chìa khóa trên xe nên đi đến lén lút lấy trộm 01 loa Bluetooth và số tiền 329.000 đồng của anh Hùng để dưới chiếu bỏ vào túi và dắt trộm 01 xe mô tô, biển số 86B3 – 044.83 ra khỏi xưởng gạch. Đ điều khiển xe vừa trộm được chạy về thị trấn Phú Long. Khi đến ngã tư Năm Công, thuộc thị trấn Phú Long, huyện Hàm Thuận Bắc thì gặp Trương Trung Kiên, sinh năm 1998, ở Khu phố Phú Th, thị trấn P, huyện Hàm Thuận Bắc đang đi bộ dọc đường nên dừng lại nói chuyện với Kiên. Do trước đó Đ có nợ Kiên số tiền 1.300.000 đồng nên khi Kiên hỏi đòi tiền nợ. Đ nhờ Kiên tìm người bán xe mô tô và nói dối với Kiên đây là xe mượn của bạn, không có giấy tờ. Tưởng thật nên Kiên đồng ý giúp (Kiên không biết đây là tài sản do Đ trộm cắp mà có), Đ giao xe mô tô trên cho Kiên rồi cầm 01 loa Bluetooth và số tiền 329.000 đồng vừa trộm cắp được đi đến căn nhà hoang ở thị trấn Phú Long ngủ, đến sáng dậy thì phát hiện những tài sản này đã bị ai lấy mất. Đến khoảng 06 giờ sáng cùng ngày, Sau khi liên lạc hỏi bán xe, Kiên đến gặp Đ nói Nguyễn Hữu Chí, sinh năm 1978, ở Thôn P, xã H, huyện Hàm Thuận N, tỉnh Bình Thuận hỏi có bán 3 triệu đồng không thì Đ đồng ý bán xe. Sau đó cả hai đem xe mô tô trên đến gặp và bán cho Chí lấy số tiền 3.000.000 đồng (Chí không biết đây là tài sản phạm tội mà có). Số tiền bán xe được Đ trả nợ cho Kiên và tiêu xài cá nhân hết. Khi phát hiện tài sản bị mất trộm, Nguyễn Quốc Hđến Công an xã Hàm Đức để trình báo sự việc, Công an xã Hàm Đức nghi ngờ mời Đ đến làm việc. Tại đây Đ đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Sau khi biết xe mô tô mình mua là tài sản do phạm tội mà có, ngày 23/6/2021, Nguyễn Hữu Cđã tự nguyện giao nộp lại xe mô tô trên cho Công an xã Hàm Đức xử lý theo quy định. Cùng ngày 23/6/2021, Công an xã Hàm Đức đã chuyển toàn bộ hồ sơ cùng tang vật cho Công an huyện Hàm Thuận Bắc xử lý theo thẩm quyền. Kết luận định giá tài sản số 57/2021/HĐĐGTT ngày 02/8/2021 của Hội đồng định giá trong tố tụng huyện Hàm Thuận Bắc kết luận: + 200m dây điện Nhãn hiệu CADIVI 30mm, lõi đồng đơn Trị giá mới tại thời điểm xảy ra vụ án là 12.000đ/m Giá trị sử dụng còn lại là 50% Thành tiền : 200m x 12.000đ/m x 50% = 1.200.000 đồng + 01 xe mô tô, biển số 86B3 – 044.83. Màu sơn xanh Nhãn hiệu WAVE, loại xe hai bánh, số loại C110 Số máy: 10ME – 0000314; số khung 110M-0000314 Trị giá mới tại thời điểm xảy ra vụ án là 20.000.000 đồng Giá trị sử dụng còn lại là 25% Thành tiền: 20.000.000 đ x 25% = 5.000.000 đồng + 01 loa nghe nhạc Bluetooth, không rõ nhãn hiệu Trị giá mới tại thời điểm xảy ra vụ án là 250.000 đồng Giá trị sử dụng còn lại là 50% Thành tiền 250.000 đ x 50% = 125.000 đồng. Tổng giá trị tài sản định giá là 6.325.000 đồng Vật chứng thu giữ và xử lý: 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda, loại Wave110, màu sơn xanh, số máy: 10ME - 0000314; số khung 110M-0000314 cùng 01 biển số xe 86B3 – 04483 là vật chứng vụ án, sau khi tạm giữ và làm rõ Cơ quan CSĐT Công an huyện Hàm Thuận Bắc đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho ông Nguyễn Quốc Hlà chủ sở hữu. Về dân sự: Sau khi các bị hại Nguyễn Quốc Hnhận lại tài sản là xe mô tô và bị hại Phạm Văn Tnhận số tiền bồi thường 1.000.000 đồng, cả hai không ai có yêu cầu bồi thường gì thêm. Nguyễn Hữu Csau khi nhận số tiền 3.000.000 đồng do ông Nguyễn Ng (cha ruột Đ) bồi thường thì không yêu cầu bồi thường gì thêm. Tại bản cáo trạng số 156/CT-VKSHTB ngày 27/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc truy tố Nguyễn N. Đ về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Nguyễn N. Đ đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung bản cáo trạng đã nêu, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điểm b, i, s Khoản 1 Điều 51Bộ luật Hình sự. Phạt Nguyễn N. Đ từ 06 đến 08 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Sau khi các bị hại Nguyễn Quốc Hnhận lại tài sản là xe mô tô và bị hại Phạm Văn Tnhận số tiền bồi thường 1.000.000 đồng; Nguyễn Hữu Cnhận số tiền 3.000.000 đồng do ông Nguyễn Ng (cha ruột Đ) bồi thường thì các bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên không xem xét giải quyết. Bị cáo Nguyễn N. Đ đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hàm Thuận Bắc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn N. Đ không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn N. Đ khai nhận về hành vi phạm tội của bị cáo đúng như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại Tòa phù hợp lời khai tại Cơ quan điều tra Công an huyện Hàm Thuận Bắc, các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa. Đủ căn cứ pháp luật để khẳng định: Khoảng 19 giờ đầu tháng 5/2021 (không nhớ rõ ngày), Nguyễn N. Đ đã lén lút trộm cắp 200 mét dây điện Cadivi 30mm, lõi đồng đơn của ông Phạm Văn Thân, ở Thôn 6, xã H, huyện Hàm T (giá trị tài sản qua định giá là 1.200.000đ). Đến khoảng 00 giờ 45 phút, ngày 19/6/2021 Đ tiếp tục lén lút lấy trộm 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave, biển số 86B3 - 044.83, 01 loa Bluetooth cùng số tiền mặt 329.000 đồng của anh Nguyễn Quốc Hở Thôn 6, xã H, huyện Hàm T (giá trị tài sản qua định giá là 5.125.000đ). Tổng giá trị tài sản Đ trộm cắp được là 6.654.000 đồng. Hành vi trên của bị cáo Nguyễn N. Đ đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. [3] Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Xuất phát từ bản chất tham lam, lười lao động, thích hưởng thụ, muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà không phải lao động cực nhọc, nên bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản để chiếm đoạt tài sản của người khác thỏa mãn nhu cầu vật chất cá nhân, bất chấp pháp luật, tài sản chiếm đoạt có tổng trị giá 6.654.000 đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự xem thường kỷ cương pháp luật, xâm phạm tài sản hợp pháp của người khác gây bất bình, tạo ra tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân, gây mất an ninh trật tự địa phương là nguy hiểm cho xã hội, nên cần thiết phải nên cho bị cáo mức án nghiêm khắc, cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt và phòng ngừa chung. [4[ Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không. [5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử xét bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra truy tố và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải và bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho các bị hại là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm b, i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. [6] Đối với mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị cho bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ xem xét quyết định khi lượng hình. [7] Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại: 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda, loại Wave110, màu sơn xanh, số máy: 10ME - 0000314; số khung 110M-0000314 cùng 01 biển số xe 86B3 – 04483 cho ông Nguyễn Quốc Hchủ sở hữu là hoàn toàn phù hợp đúng quy định pháp luật. [8] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi bị hại Nguyễn Quốc Hnhận lại tài sản là xe mô tô và các bị hại Phạm Văn Tnhận số tiền bồi thường 1.000.000 đồng, Nguyễn Hữu Cnhận số tiền bồi thường 3.000.000 đồng do ông Nguyễn Ng (cha ruột Đ) bồi thường thì các bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên không xem xét giải quyết. [9] Về những vấn đề khác: Đối với Trương Trung Kiên, Nguyễn Hữu Ckhông biết xe mô tô, biển số 86B3 - 044.83 là xe do Đ phạm tội mà có, Nguyễn Ánh Ngkhi chở Đ đi bán lõi đồng cũng không biết đây là tài sản do Đ phạm tội mà có, Phạm Thị Ngkhi mua dây điện của Đ đem tới bán không biết đây là tài sản do Đ phạm tội mà có. Do đó Kiên, Chí, Nguyệt và Nga không phạm tội: “Tiêu thụ hoặc chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”. Bị cáo Nguyễn N. Đ phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173; Điểm b, i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự . 1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn N. Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”. - Xử phạt: Nguyễn N. Đ 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án. 2. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn N. Đ phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. 4. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (21/01/2022). Riêng các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa phương. TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Thuận; - Sở tư pháp; -VKSND huyện HTB; - Công an huyện HTB; - Chi cục THADS huyện Hàm Thuận Bắc; - Cơ quan Thi hành án hình sự huyện Hàm Thuận Bắc; - Bị cáo; những người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ. Nguyễn Thị Bạch Tuyết | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA -TAND tỉnh Bình Thuận; |