vanban.org

Bản án 09/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 07/03/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 07/03/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ng M Kh.

Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Ng Th Kh1. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 47/2021/HS-ST ngày 23 tháng 11 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Tr Ô. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NGO MINH KH - CO Ý GÂY THƯƠNG TÍCH - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ s…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ng M Kh.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2022/HS-PT
Ngày: 07 - 3 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Kiều Duyên

Các Thẩm phán:

Ông Lê Thành Tân

Ông Nguyễn Hữu Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Tăng Thị Bích Trâm – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Quốc Vĩnh - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 01/2022/TLPT-HS ngày 05 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo Ng M Kh do có kháng cáo của bị cáo, bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 47/2021/HS-ST ngày 23 tháng 11 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Tr Ô, tỉnh Vĩnh Long.

- Bị cáo có kháng cáo, bị kháng cáo:

Họ và tên: Ng M Kh, sinh ngày: 23/4/2001.

Nơi cư trú: ấp H X, xã H Th, huyện V L, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ng V T và bà Tr Th Th; anh, chị, em ruột: 01 người; tiền án: không; tiền sự: không.

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: ông Phạm Minh Tấn, Luật sư Văn phòng luật sư Phạm Minh Tấn thuộc Đoàn luật sư tỉnh Vĩnh Long. có mặt

- Bị hại: Ng Th Kh, sinh ngày: 17/8/2002; nơi cư trú: số 59/4, ấp V Th, xã H Th, huyện Tr Ô, tỉnh Vĩnh Long. có mặt

Ngoài ra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Tr Th Gi không có kháng cáo hoặc không có liên quan đến kháng cáo, tòa không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 27/02/2021, Ng M Kh và Ng Qu D đến quán cháo của bà Tr Th Gi, địa chỉ ấp Kh Ph, xã H Th, huyện Tr Ô, tỉnh Vĩnh Long cùng ăn cháo và uống rượu. Khoảng 15 phút sau thì Ng Th Kh, Ng V N, H C Qu, Ph Qu Kh cũng đến quán cháo và ngồi bàn kế bên. Trong lúc ăn cháo, D và Kh xảy ra mâu thuẫn; D dùng chai đựng rượu (loại chai nhựa) ném về phía bàn nhóm của Kh đang ngồi; Kh và Kh1 tranh cãi, Kh dùng tay đánh 01 cái vào vùng phía sau đầu của Kh1 và dùng ghế loại ghế nhựa chân thấp đánh Kh từ phía sau trúng vào đầu làm Kh1 té xuống; Kh dùng ghế đánh trả lại làm Kh1 té ngã nhưng không biết trúng vào vị trí nào; lúc này Kh, Kh1 dùng ghế đánh vào người Kh, D và Kh cầm ghế đánh Kh và Kh1. Kh chạy đến khu vực bày thức ăn của quán cháo cầm 01 con dao inox để trên bàn chém Kh1 01 cái hướng từ trên xuống; Kh giơ tay lên đỡ nên trúng vào tay phải của Kh1; Kh bỏ chạy. Kh cầm dao chém 01 cái vào vai phải và 01 cái trúng vào hông phải của Kh thì dao bị gãy thì được Kh1, D và mọi người can ngăn; Kh bỏ về; Kh1 được mọi người xung quanh đưa đến trạm y tế xã Hiếu Nghĩa, huyện Vũng Liêm cấp cứu. Ngày 03/5/2021 Ng Th Kh1 làm đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với hành vi của Ng M Kh.

Tại bản Kết luận pháp y về thương tích số: 85/2021/TgT ngày 19/5/2020 của Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh Vĩnh Long kết luận thương tích của Ng Th Kh1:

1. Dấu vết chính qua giám định:

- Vết thương phần mềm sau vai phải kích thước 8x1,5cm do vật sắc gây nên không ảnh hưởng thẩm mỹ; tỷ lệ 03%.

- Vết thương phần mềm mu bàn tay phải có kích thước 2,5x0,5cm do vật sắc gây nên không ảnh hưởng thẩm mỹ; tỷ lệ 01%.

- Vết thương phần mềm gai chậu phải kích thước 4,5x2cm do vật sắc gây nên, không ảnh hưởng thẩm mỹ; tỷ lệ 02%.

2. Theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019; tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 06%.

Về vật chứng thu giữ:

- 01 con dao inox lưỡi dài khoảng 20cm, cán bằng nhựa (mũ) màu đen.

- 01 áo thun màu xanh tay ngắn, phía trước có hình bông hoa màu trắng, có chữ EVOUDRAIS.

- 01 quần tây màu đen chiều dài khoảng 100cm phía sau quần phía bên trái có một vết rách.

Ngoài ra, còn 04 ghế nhựa bị hư hỏng nhưng không tìm lại được.

Về trách nhiệm dân sự: bị hại Ng Th Kh1 yêu cầu bồi thường tiền thuốc điều trị là 1.040.000 đồng; tiền tổn thất tinh thần là 38.960.000 đồng; tổng cộng là 40.000.000 đồng. Bị cáo Khôi đồng ý bồi thường tiền thuốc điều trị 1.040.000 đồng; tiền tổn thất tinh thần là 8.960.000 đồng; hiện đã bồi thường 3.000.000 đồng.

Tại bản án Hình sự sơ thẩm số: 47/2021/HS-ST ngày 23 tháng 11 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Tr Ô đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Ng M Kh phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Ng M Kh 06 (sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo Ng M Kh bồi thường cho anh Ng Th Kh1 số tiền 10.000.000 đồng, bị cáo đã bồi thường trước 3.000.000 đồng, nên bị cáo phải bồi thường tiếp cho bị hại số tiền 7.000.000 đồng.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng; án phí và quyền kháng cáo vụ án theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 03 tháng 12 năm 2021 bị cáo Ng M Kh có đơn kháng cáo với nội dung: xin Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm cho bị cáo hưởng 06 tháng án treo và bị cáo không đồng ý bồi thường tiếp 7.000.000 đồng cho bị hại Kh1.

Ngày 26 tháng 11 năm 2021, bị hại Ng Th Kh1 có đơn kháng cáo với nội dung: đề nghị tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án; sửa án sơ thẩm theo hướng tăng án đối với bị cáo Kh từ 06 tháng tù giam lên 03 năm tù giam và tăng số tiền bồi thường cho bị hại là 40.000.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo trình bày: vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo, rút kháng cáo đối với phần bồi thường; bị cáo đồng ý bồi thường 10.000.000 đồng như án sơ thẩm đã tuyên.

Bị hại vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo tăng mức hình phạt đối với bị cáo Kh và yêu cầu bồi thường số tiền 30.000.000 đồng.

Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: nguyên nhân xảy ra sự việc bị hại dùng dao chém bị cáo xuất phát từ mâu thuẫn trước đó của những đi chung với bị cáo, bị hại; bị hại có đánh bị cáo trước nên bị cáo mới dùng dao chém bị hại, nên bị hại cũng có 01 phần lỗi. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s, h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; gia đình bị cáo có người có công với cách mạng đây là tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; cha mẹ bị cáo cũng có cam kết nếu bị cáo được hưởng án treo sẽ giám sát giáo dục bị cáo cải tạo tốt. Ngoài ra, trong thời gian chờ xét xử phúc thẩm bị cáo có khắc phục thêm số tiền 7.000.000 đồng theo án sơ thẩm tuyên. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phát biểu quan điểm: Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân đúng như Tòa án sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo, bị cáo giữ nguyên kháng cáo là xin hưởng án treo và rút kháng cáo đối với phần bồi thường thiệt hại số tiền 7.000.000 đồng, việc rút kháng cáo của bị cáo đối với phần trách nhiệm dân sự là đúng quy định của pháp luật nên chấp nhận. Tại phiên tòa bị hại yêu cầu bồi thường số tiền 30.000.000 đồng. Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, gây ảnh hưởng đến sức khỏe của bị hại Kh1. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện, thể hiện ý thức xem thường pháp luật, xem thường sức khỏe của người khác đã được pháp luật quy định và bảo vệ. Hành vi phạm tội của bị cáo gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Do đó cần phải có 01 mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội và hậu quả do bị cáo gây ra nhằm răn đe những sự việc tương tự có thể xảy ra, cũng như đáp ứng được yêu cầu kéo giảm tình hình tội phạm tại địa phương. Xét đơn kháng cáo của bị cáo nhận thấy, bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Tr Ô cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là chưa chính xác, bởi vì đây là vụ án liên quan đến tính mạng, sức khỏe là vốn quý giá nhất của con người và thực tế người bị hại bị tổn hại sức khỏe là 06%. Bị cáo cầm dao đứng đối diện chém 01 cái hướng từ trên xuống nên người bị hại đưa tay lên đỡ nên trúng vào mu bàn tay phải, sau đó người bị hại đã bỏ chạy, bị cáo đuổi theo và tiếp tục chém người bị hại thêm 02 cái (01 cái trúng vào phía sau vai phải và 01 cái trúng vào vùng hông bên phải), đã thể hiện cố tình thực hiện tội phạm đến cùng nhưng nản án sơ thẩm không áp dụng tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự là thiếu xót. Trong giai đoạn chờ xét xử sơ thẩm bị cáo tiếp tục có hành vi đánh nhau, bị Công an xã H Th, huyện V L, xử phạt hành chính số tiền 750.000 đồng, điều đó cho thấy bị cáo cố tình xem thường sức khỏe của người khác, xem thường những quy định của pháp luật. Xét thấy mức án 06 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo là chưa tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra; vì vậy cần xử lý nghiêm bị cáo theo quy định của pháp luật, tương xứng hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó không có cơ sở để cho bị cáo được hưởng án treo.

Đối với kháng cáo của bị hại; từ những phân tích trên có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị hại về yêu cầu tăng mức hình phạt đối với bị cáo. Về yêu cầu tăng số tiền bồi thường lên 30.000.000 đồng, là không có cơ sở để chấp nhận vì xét thấy tỉ lệ thương tật thực tế của người bị hại là 6% nhưng người bị hại không cung cấp, bổ sung nào mới và xét thấy bản án sơ thẩm đã cho người bị hại được hưởng tổn thất tinh thần số tiền 8.960.000đ tương đương 06 lần mức lương cơ sở là phù hợp với Điều 590 của Bộ luật Dân sự. Từ những phân tích, nhận định trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận đơn kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm a khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận 01 phần kháng cáo của bị hại Khang về việc tăng hình phạt đối với bị cáo. Đề nghị sửa bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Tr Ô về phần hình phạt đối với bị cáo. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm e khoản 1 Điều 52; các điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Ngô Minh Khôi 09 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo bồi thường cho bị hại Khang số tiền 10 triệu đồng tiền thuốc điều trị và tiền tổn thất tinh thần, bị cáo đã bồi thường được số tiền 3 triệu đồng nên buộc bị cáo tiếp tục bồi thường cho bị hại Kh1 số tiền 07 triệu đồng. buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Các phần còn lại của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Lời nói sau cùng của bị cáo: xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trà Ôn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Ôn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng; do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: vào khoảng 23 giờ ngày 27/02/2021 tại quán cháo của bà Tr Th Gi, địa chỉ ấp Kh Ph, xã H Th, huyện Tr Ô giữa bị cáo Ng M Kh và bị hại Ng Th Kh1 có phát sinh mâu thuẫn, bị cáo Kh chạy đến khu vực để thức ăn của quán, cầm 01 con dao inox để trên bàn có kích thước lưỡi dài 20 cm, cán bằng nhựa (mũ) màu đen chém vào Kh1 01 cái theo chiều từ trên xuống; Kh1 đưa tay phải lên đỡ nên trúng vào tay phải của Kh1, Kh1 bỏ chạy; Kh tiếp tục chém 01 cái vào vai phải, 01 cái vào hông phải của Kh1 thì dao bị gãy. Theo Kết luận pháp y về thương tích số: 85/2021/TgT ngày 19/5/2020 của Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh Vĩnh Long tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại của Ng Th Kh1 là 06%. Lời khai nhận của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; do đó cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Kh về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là phù hợp, đúng quy định của pháp luật.

Đối với kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Kh là không có căn cứ, vì: sau khi xảy ra sự việc bị cáo lại tiếp tục bị xử lý vi phạm hành chính, điều này cho thấy nếu cho bị cáo hưởng án treo sẽ ảnh hưởng đến tình hình chính trị trật tự tại địa phương.

Xét kháng cáo xin tăng nặng hình phạt đối với bị cáo là chưa có căn cứ, vì: sự việc xảy ra đánh nhau do hai bên xảy ra cãi nhau, bị hại Kh1 cũng có dùng ghế nhựa ném trúng bị cáo, bị cáo dùng dao inox gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ 6%. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, mức án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, nên không chấp nhận kháng cáo tăng nặng hình phạt của bị hại.

Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại: bị hại yêu cầu tăng mức bồi thường số tiền 30.000.000 đồng bao gồm tiền tổn thất tinh thần và tiền thuốc điều trị là 1.040.000 đồng là không có căn cứ vì mức bồi thường tổn thất tinh thàng cấp sơ thẩm buộc bị cáo phải bồi thường tương đương 06 tháng lương cơ sở là phù hợp. nên không chấp nhận kháng cáo của bị hại.

Lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát là được chấp nhận một phần.

Lời bào chữa của luật sư bào chữa cho bị cáo là không có cơ sở.

Về án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ng M Kh.

Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Ng Th Kh1.

Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 47/2021/HS-ST ngày 23 tháng 11 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Tr Ô.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Ng M Kh 06 (sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Về trách nhiệm dân sự: áp dụng điều 593 bộ luật tố tụng dân sự.

Buộc bị cáo Ng M Kh phải bồi thường cho bị hại Ng Th Kh1 số tiền 10.000.000 đồng, bị hại đã nhận trước 3.000.000 đồng, bị cáo Kh phải bồi thường tiếp số tiền 7.000.000 đồng.

Tiếp tục tạm giữ số tiền 7.000.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0006272 ngày 21 tháng 02 năm 2022 của Cơ quan thi hành án dân sự huyện Tr Ô, tỉnh Vĩnh Long để đảm bảo thi hành án.

Án phí: áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Ng M Kh phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ