vanban.org

Bản án 09/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Bàn Thị N được ly hôn anh Nguyễn Văn T.

Về nuôi con chung: Giao cho chị Bàn Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục Nguyễn Minh H, sinh ngày 29 tháng 10 năm 2009 và cháu Nguyễn Hồng N1, sinh ngày 23 tháng 02 năm 2006 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác. Anh Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng nuôi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Bàn Thị N được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 19/01/2022
V/v: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Lâm

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Hoài Sơn

2. Bà Ngô Thị Hoa

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hiếu, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.

Ngày 19 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 224/2021/TLST-HNGĐ, ngày 04 tháng 11 năm 2021 về việc: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2021/QĐXXST-HNGĐ, ngày 20 tháng 12 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số: 08/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 05 tháng 01 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Bàn Thị N, sinh năm 1992. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt

Địa chỉ: Thôn K, xã Q, huyện V, tỉnh Yên Bái

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1988. Vắng mặt

Trú tại: Thôn K, xã Q, huyện V, tỉnh Yên Bái

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 22-10-2021 và bản tự khai nguyên đơn chị Bàn Thị N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Bàn Thị N và anh Nguyễn Văn T tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 24 tháng 8 năm 2009 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện V, tỉnh Yên Bái. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 03 năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn nhiều lần vợ chồng cãi nhau nguyên nhân do quan điểm sống bất đồng, tính cách không hợp nhau, anh T không quan tâm đến gia đình có lần anh T đã đánh chị N những mâu thuẫn đó chị N và anh T đã nhiều lần hòa giải nhưng không được. Từ tháng 5 năm 2021 đến nay chị N và anh T không sống cùng nhau nữa và không còn quan tâm đến nhau. Nay chị Bàn Thị N xác định tình cảm vợ chồng đã hết. Chị N đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn T.

Về nuôi con chung: Chị Bàn Thị N và anh Nguyễn Văn T có 02 con chung cháu Nguyễn Minh H, sinh ngày 29 tháng 10 năm 2009 và cháu Nguyễn Hồng N1, sinh ngày 23 tháng 02 năm 2006, khi ly hôn chị N đề nghị Tòa án giải quyết được nuôi dưỡng cháu H và cháu N1 đến khi cháu đủ 18 tuổi và chị N không yêu cầu anh Nguyễn Văn T phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về chia tài sản chung và nợ chung: Chị Bàn Thị N và anh Nguyễn Văn T tự thỏa thuận phân chia tài sản chung, chị N và anh T không nợ ai nên chị N không đề nghị tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Văn T vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không có lời khai trong hồ sơ vụ án và cũng không có văn bản trình bày ý kiến, yêu cầu gì. Tại phiên tòa anh Nguyễn Văn T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Văn T hiện đang cư trú ở Thôn K, xã Q, huyện V, tỉnh Yên Bái, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.

Chị Bàn Thị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn Nguyễn Văn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228; điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Bàn Thị N và anh Nguyễn Văn T tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 24 tháng 8 năm 2009 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện V, tỉnh Yên Bái. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 03 năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn sau đó nhiều lần vợ chồng cãi nhau nguyên nhân do quan điểm sống bất đồng, tính cách không hợp nhau, anh T không quan tâm đến gia đình, trong lúc cãi nhau có lần anh T đã đánh chị N những mâu thuẫn đó chị N và anh T đã nhiều lần hòa giải nhưng không thành.

Nay chị Bàn Thị N xác định tình cảm vợ chồng đã hết. Chị N đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn T. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo phiên hoà giải nhiều lần nhưng anh Nguyễn Văn T đều cố tình lẩn tránh và vắng mặt không có lý do, nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Từ đó có căn cứ cho rằng mâu thuẫn giữa chị N và anh T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nay chị Bàn Thị N đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn anh Nguyễn Văn T. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình để chấp nhận yêu cầu của chị Bàn Thị N xử cho chị N được ly hôn anh Nguyễn Văn T là có cơ sở.

Về nuôi con chung: Chị Bàn Thị N và anh Nguyễn Văn T có 02 con chung cháu Nguyễn Minh H, sinh ngày 29 tháng 10 năm 2009 và cháu Nguyễn Hồng N1, sinh ngày 23 tháng 02 năm 2006. Hiện nay hai cháu đang sống cùng chị N cuộc sống ổn định, chị N có thu nhập khoảng 6.000.000 đồng/01 tháng, có chỗ ở, còn anh Nguyễn Văn T thường xuyên vắng mặt tại địa phương, không quan tâm đến các cháu, chị N đề nghị Tòa án giải quyết giao cho chị được nuôi dưỡng cháu H và cháu N1 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi và chị N không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung. Cháu H có đơn đề nghị Tòa án giải quyết được chị N nuôi dưỡng.

Từ những căn cứ nêu trên xét thấy đề nghị của chị Bàn Thị N được nuôi dưỡng cháu Nguyễn Minh H và cháu Nguyễn Hồng N1 là chính đáng phù hợp với nguyện vọng của cháu H do đó cần giao cháu H và cháu N1 cho chị N tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Bàn Thị N không yêu cầu anh Nguyễn Văn T phải cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Bàn Thị N không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Bàn Thị N phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Anh Nguyễn Văn T không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. [7] Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Bàn Thị N được ly hôn anh Nguyễn Văn T.

2. Về nuôi con chung: Giao cho chị Bàn Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục Nguyễn Minh H, sinh ngày 29 tháng 10 năm 2009 và cháu Nguyễn Hồng N1, sinh ngày 23 tháng 02 năm 2006 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác.

Anh Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Nguyễn Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Bàn Thị N phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị N đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số: AA/2021/0001295, ngày 04-11-2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Yên (xác nhận chị N đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm).

Án xử công khai sơ thẩm. Chị Bàn Thị N và anh Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ