vanban.org

Bản án 09/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều

273 Bộ luật tố tụng dA sự; Luật hôn nhA và gia đình; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Dung- Huynh ly hôn"
  • Tòa quyết gì? 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 273 Bộ luật tố tụng dA sự; Điều 28 Bộ luật tố tụng dA sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 09/2022/HNGĐ-ST

Ngày: 14/01/2022

TÒA ÁN NHA DA HUYỆN T V/v: ly hôn, tranh chấp về nuôi con NHA DANH TÒA ÁN NHA DA HUYỆN T, TỈNH T

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Hồng Đức Các Hội thẩm nhA dA: 1. Ông Lê Đăng Thiện 2. Ông Nguyễn Văn Sâm - Thư ký phiên tòa: Ông Lê Ngọc Công - Thư ký Tòa án nhA dA huyện T. - Đại diện Viện kiểm sát nhA dA huyện T, tỉnh T tham gia phiên toà: Ông Phạm XuA Long - Kiểm sát viên. Ngày 14 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhA dA huyện T; Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 219/2021/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 9 năm 2021 về "ly hôn, tranh chấp về nuôi con", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2021, giữa các đương sự: - Nguyên đơn: Chị Hà Thị D, sinh năm 1988; vắng mặt. Nơi ĐKHKTT: tổ dA phố Giảng Tín, phường T, thị xã Ng, T. - Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1985; có mặt. Trú tại: xóm 14, xã Q, huyện T, tỉnh T. NỘI D VỤ ÁN: Trong đơn khởi kiện ngày 16 tháng 9 năm 2021, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Hà Thị D trình bày: Về quan hệ hôn nhA: chị và anh H qua tìm hiểu, tự nguyện đi đến hôn nhA, có tổ chức cưới theo phong tục địa phương và làm đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhA dA xã T, huyện T, tỉnh T (nay là phường T, thị xã Ng, T) vào ngày 11/11/2009. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh P đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhA do vợ chồng bất đồng quan điểm về kinh tế nên dẫn đến hay xích mích, cãi cọ. Nay chị xác định không còn tình cảm và mâu thuẫn không thể hàn gắn được, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H. Về con chung: chị D xác định vợ chồng có 02 (hai) con chung là cháu Nguyễn Hà Thiên Ph, sinh ngày 12/9/2010 và cháu Nguyễn Hà Thiên Â, sinh ngày 27/3/2014, hiện tại các con đang ở với anh H. Quan điểm của chị là xin được trực tiếp nuôi cả 02 con và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con. Tại phiên tòa hôm nay vì lý do công việc chị xin được vắng mặt. Về tài sản và công nợ: chị D xác định vợ chồng tự thỏa thuận, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại bản tự khai ngày 27/9/2021, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, bị đơn là anh Nguyễn Văn H trình bày: Về quan hệ hôn nhA: anh H xác nhận việc vợ chồng kết hôn là do hai bên tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhA dA xã T, huyện Tĩnh Gia, tỉnh T vào ngày 11/11/2009. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh P, tình cảm bình thường, không xảy ra mâu thuẫn gì. Đến tháng 8 năm 2021 khi a đưa các con về nhà Bố mẹ anh tại xã Q, huyện Tn thì vợ chồng mới nảy sinh mâu thuẫn anh cho rằng mâu thuẫn của vợ chồng chưa đến mức độ phải ly hôn, anh có nguyện vọng để Tòa án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nuôi dạy con chung. Về con chung: anh H xác định vợ chồng có 02 (hai) con chung là cháu Nguyễn Hà Thiên P, sinh ngày 12/9/2010 và cháu Nguyễn Hà Thiên A, sinh ngày 27/3/2014, hiện tại các con đang ở với anh H. Quan điểm của anh là không đồng ý ly hôn, anh xin được nuôi cả 02 cháu và không yêu cầu chị D phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản và công nợ: anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại Bản tự khai ngày 08/11/2021, cháu Nguyễn Hà Thiên A trình bày nguyện vọng được ở với bố. Tại Bản tự khai ngày 08/11/2021, cháu Nguyễn Hà Thiên P trình bày nguyện vọng được ở với cả Bố và mẹ. Tại Biên bản xác minh lập ngày 25/11/2021, đại diện Ủy ban nhA dA xã Q, huyện T cho biết: chị Hà Thị D và anh Nguyễn Văn H là vợ chồng hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống tại thôn 14, xã Q, huyện T, T. Qúa trình vợ chồng chung sống mâu thuẫn giữa vợ chồng địa phương không nắm được do gia đình chưa đề nghị UBND xã hòa giải lần nào. Tại Biên bản xác minh lập ngày 25/11/2021, đại diện Ủy ban nhA dA phường T, thị xã Ng cho biết: chị Hà Thị D và anh Nguyễn Văn H là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T (nay là phường T). Quá trình chung sống chị D và anh H có 02 con chung là: Nguyễn Hà Thiên P, sinh ngày 12/9/2010 và cháu Nguyễn Hà Thiên A, sinh ngày 27/3/2014 mâu thuẫn giữa vợ chồng địa phương không nắm được do gia đình chưa đề nghị UBND phường hòa giải lần nào. Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: - Về việc tuA theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dA sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật, bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dA sự. - Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271; Điều 273; Điều 278 Bộ luật tố tụng dA sự; Căn cứ vào Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhA và gia đình; Điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Về hôn nhA: xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị D, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Hà Thị D với anh Nguyễn Văn H. Về con chung: Giao 01 con chung của chị D và anh H là Nguyễn Hà Thiên P, sinh ngày 12/9/2010 cho chị Hà Thị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, giao cháu Nguyễn Hà Thiên A, sinh ngày 27/3/2014cho anh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. chị D, anh H có quyền, nghĩa vụ, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: chị D và anh H không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về án phí: chị Hà Thị D phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Về quyền kháng cáo: chị D, anh H có quyền kháng cáo theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về tố tụng: chị Hà Thị D khởi kiện đề nghị giải quyết xin được ly hôn với anh Nguyễn Văn H, cư trú tại: thôn 14, xã Q, huyện T, tỉnh T; Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dA sự, xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhA dA huyện T. [2] Về quan hệ hôn nhA: chị Hà Thị D và anh Nguyễn Văn H tự nguyện kết hôn, đã được Ủy ban nhA dA xã T, huyện Tĩnh Gia, tỉnh T (nay là phường T, thị xã Ng, T) cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 11/11/2009, nên xác định quan hệ hôn nhA giữa chị D và anh H là hôn nhA hợp pháp. Quá trình chung sống thời gian đầu tình cảm giữa vợ chồng hạnh P, tuy nhiên sau đó thì giữa anh chị đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng trong sinh hoạt, nên tình cảm vợ chồng phai nhạt dần. Qúa trình giải quyết vụ án, chị D nhất quyết đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H còn anh H đề nghị Tòa án hòa giải để anh chị đoàn tụ cùng nhau nuôi dạy con chung; Tại phiên tòa chị D xin được vắng mặt vì lý do công việc, chị D vẫn muốn được ly hôn với anh H. Anh H xin được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả 02 con chung, không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con chung. Quá trình giải quyết vụ án, anh H chỉ đến Tòa án làm việc 01 lần ngày 27/9/2021 và 01 lần vào ngày 05/01/2022 sau khi Tòa án đã ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử, không tham gia đầy đủ các phiên hòa giải do Tòa án tiến hành. Từ những phA tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: Quan hệ hôn nhA giữa chị D và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, hôn nhA không còn có thể hàn gắn được, vì vậy chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị D, giải quyết cho chị Hà Thị D được ly hôn với anh Nguyễn Văn H. [3] Về con chung: Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, chị D, anh H cũng đều xuất trình căn cứ chứng minh thu nhập của mình hàng tháng để thể hiện khả năng nuôi con của mình. Tuy nhiên để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho các cháu nên cần giao 01 con chung là cháu Nguyễn Hà Thiên P, sinh ngày 12/9/2010 cho chị Hà Thị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và giao cháu Nguyễn Hà Thiên A, sinh ngày 27/3/2014 cho anh Nguyễn Văn H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị D và anh H có quyền, nghĩa vụ, thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở. [4] Về phần tài sản và công nợ: chị Hà Thị D và anh Nguyễn Văn H không yêu cầu giải quyết về tài sản chung và công nợ. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. [5] Về án phí: chị Hà Thị D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm. [6] Vê quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dA sự; Căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhA và gia đình; Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, 1. Về hôn nhA: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hà Thị D. Chị Hà Thị D được ly hôn với anh Nguyễn Văn H. 2. Về con chung: chị Hà Thị D và anh Nguyễn Văn H có 02 (hai) con chung là cháu Nguyễn Hà Thiên P, sinh ngày 12/9/2010 và cháu Nguyễn Hà Thiên A, sinh ngày 27/3/2014. Giao con chung là Nguyễn Hà Thiên P, sinh ngày 12/9/2010 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; giao cháu Nguyễn Hà Thiên A, sinh ngày 27/3/2014 cho anh Nguyễn Văn H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho ai. Chị Hà Thị D và anh Nguyễn Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở. 3. Về tài sản và công nợ: Không xem xét. 4. Về án phí: Chị Hà Thị D phải nộp 300.000 đồng án phí dA sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị D đã nộp, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2019/0006554 ngày 22/9/2021 của Chi cục Thi hành án dA sự huyện T. Chị D đã nộp đủ tiền án phí. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dA sự thì người được thi hành án dA sự, người phải thi hành án dA sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dA sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dA sự. 5. Về quyền kháng cáo:, Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Nguyên đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ