vanban.org

Bản án 09/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lại Thị Lan.

Về con chung: Giao cho chị Lan được tiếp tục trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung là cháu Phùng Gia Huy, sinh ngày 26/4/2019 đến khi con chung thành niên. Anh Linh không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị Lan tự nguyện không có yêu cầu. Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "V/v: Ly hôn, con chung"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lại Thị Lan.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH SƠN
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09 /2022/HNGĐ-ST
Ngày: 26/04/2022
V/v: Ly hôn, con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN - TỈNH PHÚ THỌ.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Duyên Hoà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Đức Quảng và ông Hà Đình Sở.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Ngọc Thuỷ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn tham gia phiên tòa: Ông Đinh Trọng Nho – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 227/2021/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2021 về việc: “Ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên toà số: 19/2022/QĐST – HNGĐ ngày 15/4/2022, giữa các đương sự:

Nguyªn ®¬n: Chị Lại Thị L, sinh năm 1987.

Địa chỉ: Xóm Minh Thanh, xã Minh Đài, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.

Bị đơn: Anh Phùng Tuấn L, sinh năm 1989.

Địa chỉ: Khu 7, xã Giáp Lai, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.

(Chị Lan có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Linh vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình làm việc tại Tòa án nguyên đơn - chị Lại Thị Lan trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lại Thị Lan và anh Phùng Tuấn Linh có sự tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào năm 2018 tại UBND xã Giáp Lai, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn vợ chồng ra ở riêng, tuy nhiên cuộc sống không hạnh phúc, thường nảy sinh cãi vã xung đột, vợ chồng đã ly thân với nhau từ năm 2019 đến nay không ai còn quan tâm đến nhau nữa. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên chị Lan làm đơn xin ly hôn anh Linh.

Về con chung: Chị Lan xác nhận chị và anh Linh có 01 con chung là cháu Phùng Gia Huy, sinh ngày 26/4/2019, hiện nay đang sống cùng chị Lan. Ly hôn chị Lan xin được nuôi cháu Huy và không yêu cầu anh Linh cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp và tư trang riêng: Chị Lan khẳng định không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Phía bị đơn anh Phùng Tuấn Linh quá trình giải quyết vụ án đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần tuy nhiên anh Linh đều vắng mặt không đến Toà án làm việc và trình bày quan điểm. Để có căn cứ giải quyết vụ án công bằng khách quan, đảm bảo lợi ích của các đương sự, Toà án đã đến gia đình anh Phùng Tuấn Linh gặp gia đình để lấy lời khai và xác minh tại cơ sở. Kết quả thu thập chứng cứ đều thể hiện: Anh Phùng Tuấn Linh, sinh năm 1989 là con trai của ông Phùng Tiến Dũng, sinh năm 1961, anh Linh hiện nay có đăng ký nhân khẩu thường trú và ở cùng bố mẹ tại khu 7, xã Giáp Lai, huyện Thanh Sơn. Năm 2018 anh Linh có tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn với chị Lại Thị Lan tại UBND xã Giáp Lai, sau khi kết hôn vợ chồng chung sống không hạnh phúc, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm,vợ chồng không tìm được tiếng nói chung nên từ lâu đã không còn chung sống và không ai còn quan tâm đến nhau nữa. Hiện nay anh Linh làm ăn ở Hà Nội thỉnh thoảng mới về thăm nhà, quá trình giải quyết vụ án gia đình đã nhận được đầy đủ văn bản giấy tờ cùa Toà án và đều thông tin qua điện thoại hoặc đưa lại cho anh Linh và có động viên anh Linh đến Toà án làm việc, anh Linh có nói lại với gia đình do bận công việc nên anh Linh không đến Toà án làm việc được đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt anh Linh. Quan điểm của gia đình ông Phùng Tiến Dũng: Đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Đối với cháu Phùng Gia Huy, sinh ngày 26/4/2019 là con chung của chị Lan và anh Linh, hiện đang sống cùng chị Lan, gia đình cũng nhất trí để chị Lan được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Huy đến khi thành niên.

Ngoµi ra kh«ng ai cã yªu cÇu g× kh¸c.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát:

Về việc tuân theo pháp luật: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán, thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của pháp luật, không có vi phạm gì. Các đương sự: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ Luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lan, xử cho chị Lan được ly hôn anh Linh. Về con chung: Giao cho chị Lan được tiếp tục trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung là cháu Phùng Gia Huy, sinh ngày 26/4/2019 đến khi con chung thành niên. Anh Linh không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị Lan tự nguyện không có yêu cầu.

Về án phí: Chị Lan phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Lại Thị Lan khởi kiện yêu cầu Tòa án cho ly hôn anh Phùng Tuấn Linh, đối chiếu với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xác định quan hệ pháp luật của vụ án là tranh chấp ly hôn. Do vậy, xác định đây là tranh chấp về Hôn nhân gia đình theo Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Về việc vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn chị Lan có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn - anh Linh được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt cả chị Lan và anh Linh là phù hợp quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lại Thị Lan và anh Phùng Tuấn Linh có sự tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào năm 2018 tại UBND xã Giáp Lai, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Về tình cảm vợ chồng: Xét lời khai của chị Lan và kết quả thu thập chứng cứ xác định được như sau:

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống không hạnh phúc, thường nảy sinh cãi vã xung đột, vợ chồng đã ly thân với nhau từ năm 2019 đến nay không ai còn quan tâm đến nhau nữa. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên chị Lan làm đơn xin ly hôn anh Linh. Quá trình giải quyết vụ án anh Linh có biết nhưng không đến Toà án trình bày quan điểm và tham gia hoà giải, anh Linh và gia đình có quan điểm đề nghị Toà án giải quyết theo pháp luật. Như vậy có thể thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng không có khả năng khắc phục, mục đích hôn nhân không đạt được, thực tế hôn nhân giữa chị Lan và anh Linh không còn tồn tại.Vì vậy, Hội đồng xét xử cần xử cho chị Lan được ly hôn anh Linh là phù hợp Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Chị Lan và anh Linh có 01 con chung là cháu Phùng Gia Huy, sinh ngày 26/4/2019, hiện nay đang sống cùng chị Lan. Ly hôn chị Lan xin được nuôi cháu Huy và không yêu cầu anh Linh cấp dưỡng nuôi con chung. HĐXX thấy rằng: Hiện nay cháu Huy còn nhỏ, sống cùng mẹ từ khi chị Lan và anh Linh ly thân năm 2019. Anh Linh không có trình bày quan điểm gì về việc xin được nuôi con, bản thân anh Linh cũng đi làm xa ít khi ở nhà. Gia đình anh Linh cũng nhất trí để chị Lan tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng con chung là cháu Huy đến khi thành niên. Vì vậy HĐXX cần giao con chung cho chị Lan tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng là phù hợp với quy định pháp luật và điều kiện thực tế của các đương sự.

Về tài sản chung, về nợ chung, công sức đóng góp, tư trang riêng: Chị Lại Thị Lan không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Phùng Tuấn Linh không có mặt, không trình bày quan điểm nên HĐXX không xem xét trong vụ án này.

Quan điểm đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên được chấp nhận.

Về án phí: Chị Lan phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lại Thị Lan. Cho chị Lại Thị Lan được ly hôn anh Phùng Tuấn Linh.

2. Về con chung: Giao cho chị Lan được tiếp tục trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung là cháu Phùng Gia Huy, sinh ngày 26/4/2019 đến khi con chung thành niên. Anh Linh không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị Lan tự nguyện không có yêu cầu. Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền qua lại thăm nom chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Lại Thị Lan phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Xác nhận chị Lan đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu số AA/2020/0006684 ngày 08/12/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Sơn. Nay chuyển thành án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở UBND xã nơi các đương sự cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

"Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 - luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự."

Cỡ chữ