vanban.org

Bản án 09/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân:

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Phạm Thị T đối với ông Trần Thanh T theo giấy chứng nhận kết hôn số 24, quyển số 01 ngày 12 tháng 12 năm 2003 của Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Cho bà Phạm Thị T và ông Trần Thanh T được ly hôn với nhau. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa bà Phạm Thị T và ông Trần Thanh T."
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân:
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TAM NÔNG
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 09/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 09/3/2022
“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG- TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Lê Hoàng Vũ.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Công Khanh;

Bà Đặng Thị Nguyên Hồng.

Thư ký phiên toà: Ông Lê Trần Minh Châu- Thư ký Toà án nhân dân huyện Tam Nông.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông tham gia phiên toà: Không tham gia.

Vào ngày 09 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 224/2021/TLST-HNGĐ ngày 13/12/20201, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 07/02/2022; Quyết định hoãn phiên tòa số: 03/2022/QĐST-HNGĐ ngày 22/02/2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị T, sinh năm 1976.

Địa chỉ: ấp KA, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: Ông Trần Thanh T, sinh năm 1974.

Địa chỉ: ấp KA, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa. Bị đơn vắng mặt lần thứ 2 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 12/02/2020, biên bản hòa giải ngày 27/01/2022 và tại phiên tòa bà Phạm Thị T trình bày: Bà và ông Trần Thanh T tự tìm hiểu và kết hôn với nhau vào năm 2003 và vợ chồng có có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp ngày 12/12/2003 theo quy định. Trong quá trình chung sống bà và ông T có sinh được hai con chung tên Trần Phạm Cẩm T, sinh ngày 11/9/2004 và Trần Tuấn K, sinh ngày 23/3/2010. Đến năm 2012 vợ chồng thì phát sinh mâu thuẫn vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, đời sống hôn nhân không đạt được. Bà và ông T đã ly thân từ năm 2012 cho đến nay. Từ khi vợ chồng ly thân con chung do bà nuôi dưỡng. Ông T đã bỏ địa phương đi từ năm 2016 cho đến nay và Tòa án tuyên bố ông T mất tích theo Quyết định số 16/2021/QĐST-VDS ngày 27/9/2021. Nay bà yêu cầu được ly hôn với ông Trần Thanh T.

- Về nuôi con chung: Có 02 con chung tên Trần Phạm Cẩm T, sinh ngày 11/9/2004 và Trần Tuấn K, sinh ngày 23/3/2010, hiện đang sống với bà T, khi ly hôn bà T yêu cầu được nuôi hai con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi hai con chung.

- Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có nợ ai và cũng không có ai nợ lại vợ chồng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành niêm yết thông báo thụ lý, thông báo công khai chứng cứ và hòa giải cho ông T đúng theo quy định, nhưng ông T vắng mặt và cũng không có ý kiến hay yêu cầu gì đối với vụ án trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về tố tụng: Nguyên đơn bà Phạm Thị T khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với ông Trần Thanh T và đề nghị giải quyết việc nuôi con chung khi ly hôn nên Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ tranh chấp về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Bị đơn có nơi cư trú tại ấp KA, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông Trần Thanh T mặc dù được tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn không có mặt tại phiên tòa lần thứ hai nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung tranh chấp

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa bà Phạm Thị T với ông Trần Thanh T là hoàn toàn tự nguyện và thực tế đã xảy ra, ông bà có đăng ký kết hôn theo quy định, nhưng trong quá trình chung sống, vợ chồng ông, bà thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, cự cải nhau, dẫn đến bà T và ông T ly thân với nhau từ năm 2012 cho đến nay. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án có tiến hành hòa giải, động viên cho vợ chồng bà hàn gắn, chung sống lại với nhau, nhưng ông T không có mặt theo thông báo của Tòa án. Chứng tỏ rằng, ông không quan tâm gì đến hôn nhân của ông, ông cũng không muốn vợ chồng hàn gắn, chung sống lại với nhau. Xét thấy, đời sống chung của ông, bà không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T đối với ông T là hoàn toàn phù hợp và đúng theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con chung: Trong thời gian chung sống bà T và ông T có sinh được 02 đứa con chung tên Trần Phạm Cẩm T, sinh ngày 11/9/2004 và Trần Tuấn K, sinh ngày 23/3/2010 hiện nay đang sống với bà T.Tại phiên tòa, bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, bà không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy: Từ khi bà T và ông T ly thân cho đến nay, con chung của bà T và ông T do bà T nuôi dưỡng, trong quá trình nuôi dưỡng, bà T vẫn đảm bảo cho cháu T và cháu K có cuộc sống ổn định, phát triển tốt. Hơn nữa, tại bản tự khai ngày 27/01/2022 cháu T và cháu K có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với bà T, nghĩ nên tiếp tục giao cháu T và cháu K cho bà T nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Bà T không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Ông T được quyền đến thăm nom và chăm sóc con chung, không ai có quyền ngăn cản.

Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình thu thập chứng cứ và tại phiên tòa, bà T trình bày bà và ông T không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết đối với tài sản chung và nợ chung của bà T và ông T trong vụ án này, là phù hợp và có căn cứ chấp nhận.

Về án phí: Bà T phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2, Điều 227, khoản 3, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ các Điều 56 và Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 4, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân:

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Phạm Thị T đối với ông Trần Thanh T theo giấy chứng nhận kết hôn số 24, quyển số 01 ngày 12 tháng 12 năm 2003 của Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Cho bà Phạm Thị T và ông Trần Thanh T được ly hôn với nhau.

2. Về nuôi con chung:

Giao con chung của bà Phạm Thị T và ông Trần Thanh T tên Trần Phạm Cẩm T, sinh ngày 11/9/2004 và Trần Tuấn K, sinh ngày 23/3/2010, cho bà T nuôi dưỡng.

Ông Trần Thanh T không cấp dưỡng nuôi con, do bà T không yêu cầu.

Ông Trần Thanh T được quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung, không ai có quyền ngăn cản.

3. Về án phí:

Bà Phạm Thị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà T đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003344 ngày 13/12/2021, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông.

Báo cho nguyên đơn biết, có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án hôm nay. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ