- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị H, xử cho bà Phạm Thị H ly hôn ông Trần Văn H"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị H, xử cho bà Phạm Thị H ly hôn ông Trần Văn H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÙ CANG CHẢI TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2022/HNGĐ-ST Ngày: 05 - 8 - 2022. V/v: Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÙ CANG CHẢI, TỈNH YÊN BÁI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Anh Phương;
2. Bà Bùi Minh Nguyệt.
- Thư ký phiên toà: ông Lý A Hờ, Cán bộ Toà án nhân dân huyện M, tỉnh Yên Bái.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái tham gia phiên toà: ông Đoàn Xuân Trường, Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện M, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 20/2022/TLST- HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2022 về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2022/QĐXXST
- HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2022 và quyết định hoãn phiên tòa số: 05/2022/QDST
- HNGĐ ngày 06 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1974
- Bị đơn: Ông Trần Văn H, Sinh năm: 1972;
Cùng địa chỉ: Tổ 4, thị trấn M, huyện M, T. Yên Bái
Bà Hằng có mặt, ông Hào Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và bản tự khai tại Tòa án nhân dân huyện M, nguyên đơn bà Phạm Thị H trình bày: bà và ông Trần Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 23/8/1991 tại UBND xã H, huyện T, tỉnh Yên Bái. Cuộc sống hạnh phúc những năm đầu, sau đó phát sinh mâu thuẫn do ông Hào có thói quen cờ bạc, bạo lực gia đình… mặc dù bà đã khuyên nhủ và chịu đựng rất nhiều nhưng ông Hào không thay đổi. Nay bà H xác định tình cảm vợ chồng không còn, không có hạnh phúc, đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với ông Trần Văn H.
Về con chung: có 02 con chung nhưng các con đã trưởng thành và xây dựng gia đình riêng.
Về tài Tài sản chung: Không đề nghị Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn: Tòa án đã triệu tập, niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định, đề nghị ông Trần Văn H trình bày ý kiến của mình và tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải, xét xử. Tuy nhiên ông Hào đều vắng mặt không có lý do.
Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và biên bản xác minh ngày 21/6/2022 tại UBND thị trấn M thể hiện:
Bà Phạm Thị H và ông Trần Văn H có mỗi quan hệ hôn nhân và con chung như bà Hằng đã trình bầy; tại địa phương ông Hào có biểu hiện chơi bời và ngoại tình, vợ chồng thỉnh thoảng có xảy ra mâu thuẫn; hiện nay ông Hào vẫn đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ 4, thị trấn M, huyện M, tỉnh Yên Bái, nhưng đã đi khỏi địa phương từ ngày 22/5/2022.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về tố tụng: Toà án nhân dân huyện M, tỉnh Yên Bái đã thụ lý và giải quyết vụ án đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật; Hội đồng xét xử, thư ký tòa án tiến hành tố tụng tại phiên toà đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng, chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Bị đơn đã được thông báo, triệu tập hợp lệ đến tham dự phiên tòa lần hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông Trần Văn H.
Về nội dung:
Quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện bà Phạm Thị H xử cho bà Hằng được ly hôn ông Trần Văn H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả thảo luận về những vẫn đề cần giải quyết trong vụ án tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bà Phạm Thị H và ông Trần Văn H đều có hộ khẩu tại huyện M; Do đó căn cứ vào các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Yên Bái. Tại phiên tòa ông Hào vắng mặt mặc dù đã được tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2, Căn cứ điều 227,228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông Trần Văn H.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị H và ông Trần Văn H kết hôn ngày 23/8/1991 tại UBND xã H, huyện T, tỉnh Yên Bái, đây là hôn nhân hợp pháp. Do mâu thuẫn trong cuộc sống kéo dài, ông Hào không chung thủy và có biểu hiện bạo lực gia đình; xét mâu thuẫn ông bà là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, do vậy Hội đồng xét xử cần căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị H xử cho bà Hằng ly hôn ông Trần Văn H.
Về con chung: Các con chung của ông bà đã trưởng thành và xây dựng gia đình riêng nên hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Ý kiến của Kiểm sát viên: Phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử, bảo đảm quyền và lợi ích của các đương sự nên được chấp nhận.
Về án phí: Nguyên đơn bà Phạm Thị H phải chịu tiền án phí sơ thẩm dân sự về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227,228, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị H, xử cho bà Phạm Thị H ly hôn ông Trần Văn H.
2. Về án phí: Bà Phạm Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình; nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai số: AA/2021/ 0000512 ngày 27 tháng 5 năm 2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện M, tỉnh Yên Bái; Bà Hằng đã nộp đủ tiền án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Bà Phạm Thị H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; ông Trần Văn H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND huyện; - THA DS huyện; - Các đương sự; - Lưu HS | T. M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (ĐK) Nguyễn Mạnh Hùng |