vanban.org

Bản án 09/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hằng Ng.

Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Hằng Ng và ông Nguyễn Hùng Ph ly hôn. Quan hệ hôn nhân theo giấy chứng nhận kết hôn số 654 quyển số 02 ngày 22/6/1994 tại UBND xã Lạc Xuân, huyện Đơn Dương chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Hằng Ng phải chịu 300.000đồng … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Hằng Nga xin ly hôn Nguyễn Hùng Phong"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hằng Ng.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐƠN DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 09/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 05 - 4 - 2022
V/v: “Tranh chấp xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐƠN DƢƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Ngân;

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Mai Linh Sơn;

2/ Ông Lê Đức Lam.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Phúc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Lành - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 246/2021/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 12 năm 2021 về việc: “Tranh chấp xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2022/QĐXX-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2022/QĐ - HPT ngày 18 tháng 3 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hằng Ng, sinh năm: 1972; Địa chỉ: thôn B, xã X, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Bị đơn: Ông Nguyễn Hùng Ph, sinh năm: 1968; Địa chỉ: thôn B, xã X, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

(Bà Ng có mặt, ông Ph vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai quá trình làm việc và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hằng Ng trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Hùng Ph yêu thương tự nguyện kết hôn chung sống cùng nhau. Đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Lạc Xuân vào năm 1994. Thời gian đầu vợ chồng chung sống phúc. Tuy nhiên sau khi các con trưởng thành thì hai bên phát sinh nhiều mâu thuẫn, do đôi bên không thể hòa hợp nhau trong cuộc sống, ông Ph duy trì lối gia trưởng, vũ phu, thường uống rượu về đòi hỏi chuyện vợ chồng, bà không đáp ứng được do tuổi đã lớn thì ông quậy phá, đập phá đồ đạc trong gia đình, chửi bới, chì chiết xúc phạm bà, nghi ngờ bà ngoại tình. Bản thân bà vì con nên cố gắng chịu đựng, tuy nhiên đến nay bà không thể chịu đựng thêm, ông Ph ngày càng thay đổi tính nết dẫn đến cuộc sống chung giữa bà và ông Ph ngày càng căng thẳng, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà đã ra ngoài sống riêng cho yên ổn, tuy nhiên ông Ph vẫn thường xuyên đến quậy phá, chửi bới, phá hoại vườn rau, tài sản của bà, không để bà được sống yên ổn. Cuộc sống của bà vô cùng bế tắc và đau khổ, bà mong muốn được ly hôn với ông Ph để giải thoát mọi sự đau khổ phải chịu đựng.

- Về con chung: Trong thời gian chung sống bà và ông Nguyễn Hùng Ph có với nhau 02 người con chung tên Nguyễn Quốc T, sinh ngày: 04/7/1995 và Nguyễn Bích Ph, sinh ngày: 02/12/1996. Hiện 02 cháu Tân và Phượng đã đủ tuổi trưởng thành, có công việc, có thu nhập ổn định. Vì vậy bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Ng không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngày 13/12/2021, ông Nguyễn Hùng Ph có nộp đơn xin gia hạn gửi đến Tòa án. Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng ông Nguyễn Hùng Ph đều vắng mặt. Bà Nguyễn Thị Hằng Ng có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hằng Ng vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn ông Nguyễn Hùng Ph.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương:

- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử từ khi thụ lý cho đến thời điểm xét xử đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng thì nguyên đơn thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn không thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hằng Ng, cho bà Nguyễn Thị Hằng Ng được ly hôn với ông Nguyễn Hùng Ph; Về con chung: Đã trưởng thành nên không đề cập đến; Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu nên không đề cập đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa của nguyên đơn, quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương về nội dung vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

Về áp dụng pháp luật tố tụng: Đây là vụ án “Xin ly hôn” giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hằng Ng và bị đơn ông Nguyễn Hùng Ph. Ông Nguyễn Hùng Ph có nơi cư trú tại: 739 thôn Lạc Viên B, xã Lạc Xuân, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương theo quy định tại Khoản 1 Điều 28; Khoản 1 Điều 35; Khoản 3 Điều 36; Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Việc bị đơn ông Nguyễn Hùng Ph vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai theo đúng quy định tại các Điều 175, 177, 179 của Bộ Luật tố tụng Dân sự năm 2015. Vì vậy, theo quy định tại các Điều 207, 227, 228, 273 của Bộ Luật tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án và giành quyền kháng cáo vắng mặt cho ông Nguyễn Hùng Ph là đúng quy định pháp luật.

Về áp dụng pháp luật nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Xét quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Hằng Ng và ông Nguyễn Hùng Ph là hợp pháp. Hôn nhân dựa trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Lạc Xuân và năm 1994 theo giấy chứng nhận kết hôn số 654 quyển số 02 ngày 22/6/1994. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khi các con trưởng thành thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, do ông Ph duy trì lối gia trưởng, phía bà Ng tuổi đã cao không còn đáp ứng được chuyện sinh lý vợ chồng nên ông Ph thường chửi bới, quậy phá, đập phá đồ đạc trong gia đình, chì chiết, xúc phạm bà Ng. Ông Ph ngày càng thay đổi tính tình dẫn đến cuộc sống chung ngày càng căng thẳng. Bà Ng đã dọn ra ngoài sống riêng từ tháng 12 năm 2021 cho đến nay. Thời gian sống riêng, ông Ph vẫn quậy phá, chửi bới, phá hoại vườn rau, tài sản của bà Ng. Mâu thuẫn giữa bà và ông Ph đã quá trầm trọng, bà Ng xin được ly hôn ông Nguyễn Hùng Ph. Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ giấy triệu tập ông Nguyễn Hùng Ph đến tòa án để trình bày ý kiến về yêu cầu xin ly hôn của bà Ng và hòa giải quan hệ hôn nhân giữa bà Ng và ông Ph, tuy nhiên ông Ph đều vắng mặt. Qua xác minh mâu thuẫn giữa bà Ng và ông Ph tại địa phương cho thấy mâu thuẫn giữa bà Ng và ông Ph có phát sinh trên thực tế, hiện bà Ng và ông Ph đã không chung sống cùng nhau. Hội đồng xét xử nhận thấy, hiện nay quan hệ hôn nhân giữa bà Ng và ông Ph chỉ tồn tại trên mặt pháp lý, thực tế hai bên đã có mâu thuẫn và đã sống ly thân. Chứng tỏ mâu thuẫn giữa bà Ng và ông Ph đã trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, nếu có níu kéo cho hai bên về chung sống cũng không mang lại hạnh phúc. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Ng, cho bà Ng được ly hôn với ông Ph là phù hợp với thực tế và phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Về con chung: Giữa bà Ng và ông Ph có 02 người con tên Nguyễn Quốc Tân, sinh ngày: 04/7/1995 và Nguyễn Bích Phượng, sinh ngày: 02/12/1996. Hiện anh Tân và chị Phượng đã đủ tuổi trưởng thành, có công việc, có thu nhập ổn định. Bà Ng không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó không xem xét đến.

- Về tài sản chung và nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa, bà Ng không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập đến.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Hằng Ng phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật. Ông Nguyễn Hùng Ph không phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Khoản 1 Điều 28; Khoản 1 Điều 35; Khoản 3 Điều 36; Khoản 1 Điều 39; Các Điều 175, 177, 179,207, 220, 227, 228, 235, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hằng Ng.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Hằng Ng và ông Nguyễn Hùng Ph ly hôn. Quan hệ hôn nhân theo giấy chứng nhận kết hôn số 654 quyển số 02 ngày 22/6/1994 tại UBND xã Lạc Xuân, huyện Đơn Dương chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2.Về án phí: Bà Nguyễn Thị Hằng Ng phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn nhưng được trừ vào số tiền 300.000đồng do bà Ng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0003665 ngày 03/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đơn Dương. Ông Nguyễn Hùng Ph không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo bản án: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà Nguyễn Thị Hằng Ng được quyền kháng cáo; riêng ông Nguyễn Hùng Ph được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án (hoặc niêm yết) để yêu cầu tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ