vanban.org

Bản án 09/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn C.

Về hôn nhân: Ông Nguyễn Văn C được ly hôn với bà Võ Thị A. Về con chung: Các con đều đã trưởng thành. Ông C và bà A không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn C.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẦU NGANG
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 06-12-2022
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc Hùng Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Văn Được

Ông Lê Văn Đáng

- Thư ký phiên tòa: Ông Chung Hữu Toàn là Thẩm tra viên của Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Lý Phước Bền - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 40/2022/TLST-HNGĐ, ngày 28 tháng 9 năm 2022 về việc “tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2022, giữa:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1967. Địa chỉ: Ấp C, xã V, huyện C, tỉnh Trà Vinh có mặt.

- Bị đơn: Bà Võ Thị A, sinh năm 1962. Địa chỉ: Ấp C, xã V, huyện C, tỉnh Trà Vinh có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Nguyễn Văn C trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Võ Thị A chung sống với nhau vào năm 1985 có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán nhưng không có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống vợ chồng có 03 con chung tên Nguyễn Minh C, sinh năm 1987; Nguyễn Thị Hồng T, sinh năm 1989 và Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1997 đều đã trưởng thành. Nguyên nhân mâu thuẩn dẫn đến việc ly hôn là do bất đồng quan điểm, vợ chồng nhiều lần hòa giải với nhau nhưng không tìm được tiếng nói chung, mâu thuẩn ngày càng trầm trọng không thể hàn gán được và đã ly thân từ năm 2011 cho đến nay. Nhận thấy cuộc hôn nhân không thể cứu vãn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông C yêu cầu được ly hôn với bà Võ Thị A.

- Về con chung: Có 03 con chung tên Nguyễn Minh C, sinh năm 1987; Nguyễn Thị Hồng T, sinh năm 1989 và Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1997 đều đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.

- Về tài sản chung vợ chồng và số nợ phải thu, phải trả: Ông C không tranh chấp, không khởi kiện nên không yêu cầu giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn bà Võ Thị A trình bày: Bà thống nhất với lời trình bày của ông C về thời gian kết hôn và việc không đăng ký kết hôn và con là đúng. Về nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm vợ chồng nhiều lần hòa giải với nhau nhưng không tìm được tiếng nói chung, ông C thường xuyên đánh đập vợ con, mâu thuẩn ngày càng trầm trọng nên không thể hàn gán được và vợ chồng đã ly thân từ năm 2011 đến nay. Trong khoản thời gian ly thân thì cũng không ai quan tâm nhau, mạnh người nào người đó sống và tại phiên tòa hôm nay bà thống nhất ly hôn với ông C.

- Về con chung: Có 03 con chung tên Nguyễn Minh C, sinh năm 1987; Nguyễn Thị Hồng T, sinh năm 1989 và Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1997 đều đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.

- Về tài sản chung vợ chồng và số nợ phải thu, phải trả: Bà A không tranh chấp, không khởi kiện nên không yêu cầu giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý vụ án cho đến phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn, bị đơn đã tuân thủ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Ông Nguyễn Văn C và bà Võ Thị A xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 1985, nhưng không có đăng ký kết hôn. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội thì nam nữ xác lập quan hệ hôn nhân trước ngày 03/01/1987 là hôn nhân thực tế. Trong quá trình chung sống giữa ông C với bà A phát sinh mâu thuẩn, cải vả thường xuyên, không ai quan tâm đến ai. Ngoài ra, trong thời gian sống ly thân hai bên cũng không tạo điều kiện cho nhau để cải thiện quan hệ vợ chồng, khắc phục sai lầm, cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình và tại phiên tòa bà A thống nhất ly hôn với ông C. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Về con chung: đều đã trưởng thành nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, về tài sản chung vợ chồng và số nợ phải thu, phải trả: ông Nguyễn Văn C và bà Võ Thị A không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Ngoài ra, vị Kiểm sát viên còn đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết về án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Ông Nguyễn Văn C và bà Võ Thị A tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại các Điều 28; 35; 36 và 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Giữa ông Nguyễn Văn C và bà Võ Thị A xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 1985, nhưng không có đăng ký kết hôn. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội thì nam nữ xác lập quan hệ hôn nhân trước ngày 03/01/1987 là hôn nhân thực tế. Ông C và bà A xác lập quan hệ hôn nhân vào năm 1985 nên hôn nhân giữa ông C và bà A là hôn nhân hợp pháp.

Ông Nguyễn Văn C trình bày trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẩn, bất đồng quan điểm vợ chồng nhiều lần hòa giải với nhau nhưng không tìm được tiếng nói chung hai người đã ly thân từ năm 2011 đến nay nên ông yêu cầu được ly hôn với bà A. Bà A trình bày bà cũng thống nhất quá trình chung sống vợ chồng mâu thuẩn và ly thân từ năm 2011 như ông C trình bày và tại phiên tòa hôm nay bà A đồng ý ly hôn với ông C. Hội đồng xét xử xét thấy quá trình chung sống giữa ông C với bà A cuộc sống hôn nhân xảy ra nhiều mâu thuẩn và vợ chồng không còn tình cảm với nhau và đã sống ly thân khoảng hơn 10 năm. Do đó, căn cứ vào Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Văn C là phù hợp quy định pháp luật.

Về con chung: Các con đều đã trưởng thành. Ông C và bà A không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung vợ chồng và số nợ phải thu, phải trả: Ông Nguyễn Văn C và bà Võ Thị A không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Ông Nguyễn Văn C phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Xét quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn C.

1. Về hôn nhân: Ông Nguyễn Văn C được ly hôn với bà Võ Thị A.

2. Về con chung: Các con đều đã trưởng thành. Ông C và bà A không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

3. Về tài sản chung vợ chồng và số nợ phải thu, phải trả: Ông Nguyễn Văn C và bà Võ Thị A không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Ông Nguyễn Văn C phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0010985 ngày 26 tháng 9 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Trà Vinh; ông Nguyễn Văn C đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.

5. Về Quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ