vanban.org

Bản án 09/2022/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:

Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn: Giao con chung Trần Linh Đ, sinh ngày 09/04/2012 và Trần Ngọc Đ, sinh ngày 20/8/2013 cho anh Trần Ngọc T được trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc và giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc có quyết định khác của cơ quan có thẩm quyền. Chị Đậu Thị … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Trần Ngọc Thọ và Đậu Thị Chi"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 11 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DIỄN CHÂU
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2022/HNGĐ - ST
Ngày: 31-05-2022
V/v Tranh chấp về thay đổi người
trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Danh Hùng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Liên

Ông Nguyễn Thế Anh

- Thư ký phiên tòa: Ông Vương Thanh Minh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Lê Đại- Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 05 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện D C, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 45/2022/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 03 năm 2022 về việc “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 05 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Trần Ngọc T, sinh năm 1995. Có mặt

Địa chỉ: Khối 6, thị trấn C G, huyện Q L, tỉnh Nghệ An

Bị đơn: Chị Đậu Thị C, sinh năm 1988. Vắng mặt

Địa chỉ: Xóm 7, xã Diễn Thành, huyện D C, tỉnh Nghệ An

Hiện đang bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn anh Trần Ngọc T trình bày:

Anh và chị Đậu Thị C kết hôn vào năm 2011, do mâu thuẫn vợ chồng không thể sống chung được với nhau nên anh và chị C đã thuận tình ly hôn, được Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Nghệ An giải quyết ly hôn theo Quyết định công nhận thuần tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 143/2019/QĐST-HNGĐ ngày 07/06/2019. Tại quyết định ly hôn, anh và chị C thỏa thuận chị C là người trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, cháu Trần Linh Đ, sinh ngày 09/04/2012 và cháu Trần Ngọc Đ, sinh ngày 20/8/2013, anh có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 5.000.000 đồng.

Sau khi ly hôn, chị C thiếu trách nhiệm với con, bỏ bê việc chăm sóc con cái, làm ảnh hưởng tới sự phát triển cũng như việc học hành của hai con. Hiện nay chị C vi phạm pháp luật, đang bị tạm giữ, tạm giam tại trại tạm giam Công An tỉnh Nghệ An, không có đủ điều kiện để nuôi hai con, anh đã đưa hai còn về thị trấn C G, huyện Q L để sinh sống kể từ ngày chị C bị bắt tạm giữ, tạm giam cho đến nay. Vì vậy, anh yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, giao cháu Trần Linh Đ và cháu Trần Ngọc Đ cho anh được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục và để có cơ sở nhập học nơi mới cho hai con. Anh chưa yêu cầu chị C cấp dưỡng nuôi con chung.

Đối với bị đơn chị Đậu Thị C:

Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Đậu Thị C vắng mặt nhưng đã có bản tự khai và đơn xin vắng mặt, có xác nhận của trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An có nội trình bày: Chị và anh T đã giải quyết ly hôn theo Quyết định công nhận thuần tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 143/2019/QĐST-HNGĐ ngày 07/06/2019 của Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Nghệ An.Tại quyết định ly hôn, chị và anh T thỏa thuận chị là người trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, cháu Trần Linh Đ, sinh ngày 09/04/2012 và cháu Trần Ngọc Đ, sinh ngày 20/8/2013, anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 5.000.000 đồng. Từ năm 2019 cho đến ngày chị bị bắt tạm giữ, tạm giam chị luôn thực hiện tốt nghĩa vụ của người mẹ, luôn chăm sóc chu đáo cho hai con, hai con ăn học đầy đủ, không thiệt thòi so với những đứa trẻ cùng lứa tuổi. Đến tháng 12/2021, trong quá trình đi làm do thiếu hiểu biết về pháp luật, chị đã bị Cơ quan điều tra Công an tỉnh Nghệ An khởi tố về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Hiện chị đang bị tạm giữ, tạm giam tại trại tạm giam Công An tỉnh Nghệ An không có điều kiện được trực tiếp nuôi hai con, chị chấp nhận yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của anh T, đồng ý giao hai con chung Trần Linh Đ, sinh ngày 09/04/2012 và Trần Ngọc Đ, sinh ngày 20/8/2013 cho anh Trần Ngọc T được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục khi chị đang bị tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự theo quy định của pháp luật và đề nghị Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt chị.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D C, tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Thẩm phán đã xác định tư cách pháp lý của các đương sự; thu thập chứng cứ; cấp tống Đ các văn bản tố tụng cho các đương sự; thực hiện thời hạn chuẩn bị xét xử theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Thư ký Tòa án thực hiện đúng các quy định về phổ biến nội quy phiên tòa, kiểm tra báo cáo danh sách những người được triệu tập đến phiên tòa.

Hội đồng xét xử tiến hành thủ tục bắt đầu phiên tòa, thực hiện nội dung, phương thức, thứ tự tranh tụng đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Về yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của nguyên đơn. Xét thấy chị Đậu Thị C đang bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam Công An tỉnh Nghệ An về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” không đủ điều kiện nuôi con, chị C đồng ý giao hai con chung cho anh T được trực tiếp nuôi dưỡng trong thời gian chị bị tạm giữ, tạm giam và chấp hành án. Căn cứ khoản 2 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn anh Trần Ngọc T. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự: Giao cháu Trần Linh Đ, sinh ngày 09/04/2012 và cháu Trần Ngọc Đ, sinh ngày 20/8/2013 cho anh Trần Ngọc T được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Chị C có quyền thăm gặp con không ai được cản trở.Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho chị C vì anh T chưa có yêu cầu.

Về án phí: Nguyên đơn anh Trần Ngọc T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Nguyên đơn là anh Trần Ngọc T có đơn yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Bị đơn là chị Đậu Thị C có địa chỉ tại xóm 7, xã Diễn Thành, huyện D C, tỉnh Nghệ An. Xác định quan hệ tranh chấp là “Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện D C, tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải. Bị đơn đang bị tạm giữ tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An, vì vậy Tòa án không mở các phiên hòa giải. Tòa án đã có Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo đúng quy định của pháp luật, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Anh Trần Ngọc T và chị Đậu Thị C trước đây là vợ chồng, trong thời kỳ hôn nhân, anh và chị có 02 người con chung cháu Trần Linh Đ, sinh ngày 09/04/2012 và cháu Trần Ngọc Đ, sinh ngày 20/8/2013. Năm 2019 anh chị ly hôn tại Tòa án. Tại Quyết định công nhận thuần tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 143/2019/QĐST-HNGĐ ngày 07/06/2019 của Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Nghệ An đã giao con chung là cháu Trần Linh Đ và cháu Trần Ngọc Đ cho chị Đậu Thị C được trực tiếp nuôi dưỡng, anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 5.000.000 đồng. Hiện nay chị C đang bị tạm giữ, tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An, không có đủ điều kiện để nuôi hai con, anh T đã đưa 02 con về nuôi từ ngày chị C bị tạm giữ, tạm giam cho đến nay. Anh T yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, giao cháu Trần Linh Đ và cháu Trần Ngọc Đ cho anh được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục, anh chưa yêu cầu chị C cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử thấy rằng: Anh T và chị C có 02 con chung là cháu Trần Linh Đ và cháu Trần Ngọc Đ. Sau khi anh chị ly hôn, chị C trực tiếp nuôi cháu Đ và cháu Đ, nhưng hiện nay chị C đang bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, không đủ điều kiện nuôi con, anh T là bố đẻ của hai cháu, xin thay đổi, cho anh được trực tiếp nuôi cả hai cháu. Đây là nguyện vọng chính đáng của anh. Bị đơn chị C vắng mặt nhưng đã có ý kiến; hiện chị đang bị Cơ quan điều tra Công an tỉnh Nghệ An khởi tố về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, chị đang bị tạm giữ, tạm giam tại trại tạm giam Công An tỉnh Nghệ An không có điều kiện được trực tiếp nuôi hai con, chị đồng ý yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của anh T, chị đồng ý giao hai con chung Trần Linh Đ và Trần Ngọc Đ cho anh Trần Ngọc T được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục khi chị đang bị tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự theo quy định của pháp luật. Xét sự thỏa thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn cũng như vấn đề cấp dưỡng nuôi con là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với điều kiện thực tế nên cần chấp nhận.

Về cấp dƣỡng nuôi con: Anh Trần Ngọc T chưa yêu cầu chị C cấp dưỡng nuôi con chung. Vì vậy, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Đậu Thị C.

Về án phí: Nguyên đơn anh Trần Ngọc T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, trả lại tiền tạm ứng án phí cho anh T.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 3 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Các Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

- Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm d khoản 2 Điều 11 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:

Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn: Giao con chung Trần Linh Đ, sinh ngày 09/04/2012 và Trần Ngọc Đ, sinh ngày 20/8/2013 cho anh Trần Ngọc T được trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc và giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc có quyết định khác của cơ quan có thẩm quyền.

Chị Đậu Thị C có quyền, nghĩa vụ thăm gặp con chung không ai được cản trở. Nếu chị C lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì anh T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của chị C.

2. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Đậu Thị C vì anh T chưa có yêu cầu.

2. Về án phí: Anh Trần Ngọc T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho anh T 300.000 đồng (ba trăm nghì đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001590 ngày 01/03/2022 tại C cục thi hành án dân sự huyện D C, tỉnh Nghệ An.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn anh Trần Ngọc T có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn chị Đậu Thị C vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ