- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đào Kim Oanh - Trần Sông Lam"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THUỶ THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2022/HNGĐ-ST Ngày: 09/02/2022 V/v: “Tranh chấp xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hài.
Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Việt Thành
2. Bà Nguyễn Thị Hồng Diễm
Thư ký phiên tòa: Ông Võ Trung Hậu – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thuỷ, thành phố Cần Thơ.
Ngày 09 tháng 02 năm 2022, Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 04/2022/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 01 năm 2022, về việc “Tranh chấp xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2022/QĐXX ST-HNGĐ ngày 24 tháng 01 năm 2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Đào Kim O , sinh năm 1997.
Nơi cư trú: xã Q, huyện L, tỉnh N;
Địa chỉ liên hệ: phường A, quận B, thành phố H.
Bị đơn: Ông Trần Sông L, sinh năm 1989.
Nơi đăng ký thường trú: xã Q, huyện L, tỉnh N;
Nơi đăng ký tạm trú: phường B, quận B, thành phố C.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Hồ Thị Diễm T – Công ty Luật K – Đoàn Luật sư TP.C.
Nguyên đơn, bị đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Phần trình bày của nguyên đơn theo đơn khởi kiện đề ngày 16/11/2021 và trong quá trình tố tụng như sau:
Bà Đào Kim O và ông Trần Sông L qua quen biết, tìm hiểu, được sự chấp thuận của hai bên gia đình nên tự nguyện tiến đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện L, tỉnh N năm 2018. Quá trình chung sống thời gian đầu rất hạnh phúc, ông bà có chưa có con chung với nhau. Sau đó phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vả, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và không thể tự hàn gắn được. Giữa bà O và ông L sống ly thân với nhau hơn 01 năm 06 tháng. Nay nhận thấy tình cảm không còn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Trần Sông L.
Về con chung: Không có con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bà Đào Kim O có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 16/11/2021 được chứng thực tại Ủy ban nhân dân phường A, quận B, Thành Phố H.
Đối với ông Trần Sông L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý cùng giấy triệu tập. Ngày 18/01/2022 ông L có bản tự khai gửi đến Tòa án nhân dân quận Bình Thủy thể hiện ý kiến: đồng ý ly hôn với bà O, về con chung không có; về tài sản chung, nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Cùng ngày 18/01/2022 ông L có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt, văn bản được công chứng tại Văn phòng Công chứng Nguyễn Thị Ánh N, thành phố C.
Do nguyên đơn, bị đơn vắng mặt và nguyên đơn có đơn không tiến hành hòa giải nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải được. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử công khai, vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay, Nguyên đơn, bị đơn xin vắng mặt có lý do chính đáng.
Luật sư Hồ Thị Diễm T – người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn phát biểu quan điểm: Kính thưa Hội đồng xét xử, giữa bà O và ông L có đăng ký kết hôn hợp pháp và ông L có tạm trú tại địa bàn quận Bình Thủy nên vụ án do Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ thụ lý là đúng thẩm quyền. Do bà O có đơn không tiến hành hòa giải nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử là đúng theo quy định của pháp luật. Về quan hệ hôn nhân, giữa bà O và ông L đã phát sinh mâu thuẫn mà nguyên nhân mâu thuẫn do hai bên không tìm được tiếng nói chung, tình cảm không còn và yêu cầu ly hôn của bà O là hoàn toàn tự nguyện. Giữa bà O và ông L không có con chung; về tài sản chung, nợ chung cũng không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra ông L cũng đã có bản tự khai thể hiện ý kiến đồng ý ly hôn với bà Đào Kim O , về con chung, tài sản chung, nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của bà Đào Kim O về việc xin ly hôn đối với ông Trần Sông L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sợ vụ án và căn cứ vào lời tranh luận tại phiên tòa của Luật sư, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục:
Giữa bà Đào Kim O và ông Trần Sông L tự nguyện tiến tới hôn nhân năm 2018 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện L, tỉnh N. Đồng thời ông L có nơi cư trú tại địa bàn quận Bình Thủy, đây là hôn nhân hợp pháp thuộc ngành Luật hôn nhân và gia đình điều chỉnh và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
[2] Về quan hệ tranh chấp:
Xét hôn nhân giữa bà Đào Kim O và ông Trần Sông L đã phát sinh mâu thuẫn mà nguyên nhân theo ông L, bà O là do bất đồng quan điểm sống, bà O và ông L không có tiếng nói chung nên thường xuyên mâu thuẫn với nhau. Cuộc sống vợ chồng không còn đồng cảm và hạnh phúc như thời gian đầu chung sống.
[3] Hội đồng xét xử nhận thấy, quan hệ hôn nhân là sự gắn kết giữa vợ chồng, phải có sự đồng thuận, tự nguyện từ hai phía, phải có tình yêu thương quan tâm và chăm sóc các thành viên trong gia đình. Ngày 16/11/2021 bà O có bản tự khai nhất quyết ly hôn với ông L vì tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt. Ngày 18/01/2022 ông L có bản tự khai thể hiện ý kiến ông đồng ý ly hôn với bà O, không yêu cầu hòa giải đoàn tụ cũng như cho thấy ông không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng duy trì cuộc sống hôn nhân. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy chấp thuận yêu cầu xin ly hôn của bà Đào Kim O và ông Trần Sông L là có cơ sở.
[4] Về con chung: Giữa bà O và ông L không có con chung nên không đặt ra giải quyết.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Bà O, ông L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6] Về phía ông L, mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ thông báo thụ lý và thực hiện việc tống đạt Quyết định xét xử theo đúng trình tự quy định của Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành nhưng bị đơn có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt và cũng đã có văn bản tự trình bày ý kiến của mình. Đối với bà O có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt có lý do chính đáng. Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi cho người vắng mặt Hội đồng xét xử dành quyền kháng cáo cho ông L, bà O theo quy định của pháp luật.
[7] Bà Đào Kim O phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Đào Kim O được ly hôn với ông Trần Sông L.
2. Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
3. Tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Bà Đào Kim O phải chịu 300.000đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Chuyển tiền tạm ứng án phí bà O đã nộp theo biên lai thu số 0002209 ngày 05/01/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ thành án phí hôn nhân sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú của nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo để xin Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SỞ THẨM
| Nơi nhận: - TAND TP.Cần Thơ; - Viện kiểm sát ND Q.Bình Thuỷ; - Chi cục THADS Q.Bình Thuỷ; - Đương sự; - Lưu. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Nguyễn Thị Hài |