vanban.org

Bản án 09/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Quận 4, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 14/02/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Châp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

Buộc ông Trương Hoàng V thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền nợ tạm tính đến ngày 14/02/2022 là 6.756.920 (sáu triệu bảy trăm năm mươi sáu nghìn chín trăm hai mươi) đồng, trong đó nợ gốc là 3.884.039 (ba triệu tám trăm tám mươi bốn nghìn không trăm ba mươi chín) đồng và lãi quá hạn … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Bản án tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Châp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2022/DS-ST
Ngày: 14/02/2022.
V/v Tranh châp Hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Hồng Loan

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đinh Kim Hoàng

2. Bà Võ Thanh Nga

Thư ký phiên tòa: Ông Tạ Mạnh Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 02 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 179/2020/TLST-DS, ngày 09/122020 về việc “Tranh châp Hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 432/2021/QĐST-DS ngày 15/12/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2021/QĐST-DS ngày 14/01/2021, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S (viết tắt là Ngân hàng TMCP S)

Trụ sở: đường N, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Bích Thanh T, sinh năm 1980.

Địa chỉ liên lạc: đường N, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

(có đơn xin vắng mặt)

Bị đơn: Ông Trương Hoàng V, sinh năm 1967

Nơi cư trú: đường Đ, Phường C, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh

(vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng TMCP S có bà Nguyễn Bích Thanh T là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 19/9/2011, ông Trương Hoàng V có ký Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng số 472074 - 7484 (bao gồm Giây đề nghị câp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) với Ngân hàng TMCP S. Căn cứ thu nhập của ông V, Ngân hàng đã đồng ý câp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 10.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Áp dụng lãi suât theo từng thời kỳ, cụ thể: Lãi suât 2.15%/ tháng theo thông báo số 113/TB-TTT ngày 04/07/2011; Lãi suât 2.6%/ tháng theo thông báo số 2399/TB-TTT ngày 06/08/2019. Sau khi được câp Thẻ tín dụng, ông V đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 23.918.000 đồng.Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay, ông V đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 49.392.000 đồng.

Sau đó, ông V không tiếp tục trả nợ, qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông V vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông V vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nên ngày 26/07/2020 Ngân hàng đã châm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu là 3.884.039 đồng sang nợ quá hạn.

Nay Ngân hàng yêu cầu ông Trương Hoàng V phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 26/11/2021 là 6.884.039 đồng, trong đó: Nợ gốc là 3.884.039 đồng, lãi quá hạn là 2.468.961 đồng và ông Trương Hoàng V có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 27/11/2021 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suât quy định tại Hợp đồng.

Bị đơn ông Trương Hoàng V: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Giây triệu tập và Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho ông V, để ông V thực hiện việc tham gia tố tụng tại Tòa án, nhưng ông V vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa,

Ngân hàng TMCP S có bà Nguyễn Bích Thanh T là người đại diện theo ủy quyền có đơn xin vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, buộc ông Trương Hoàng V trả ngay cho Ngân hàng toàn bộ nợ gốc và nợ lãi phát sinh tạm tính đến ngày 14/02/2022 là 6.756.920 đồng, trong đó nợ gốc là 3.884.039 đồng, lãi quá hạn là 2.872.881 đồng và ông Trương Hoàng V có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 15/02/2022 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suât quy định tại Hợp đồng.

Bị đơn ông Trương Hoàng V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

- Đại diện Viện kiểm sát nhândân Quận 4,Thànhphố Hồ Chí Minhphát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Qua kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Do ông Trương Hoàng V vi phạm nghĩa vụ trả nợ, không thực hiện theo đúng thỏa thuận, nên đề nghị Hội đồng xét xử châp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền nợ gốc và lãi theo hợp đồng đã ký kết.

Về án phí: Đương sự chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng:

- Quan hệ tranh châp và thẩm quyền giải quyết: Xét Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu ông Trương Hoàng V thanh toán số tiền nợ theo Giây đề nghị câp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, nên có đủ cơ sở xác định đây là vụ án dân sự về tranh châp hợp đồng tín dụng; Ông Trương Hoàng V có nơi cư trú tại Quận 4, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Thủ tục mở phiên tòa vắng mặt đương sự: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S có bà Nguyễn Bích Thanh T là người đại diện theo ủy quyền có đơn xin vắng mặt; Bị đơn là ông Trương Hoàng V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.

. Về nội dung:

. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Ngân hàng TMCP S yêu cầu ông Trương Hoàng V thanh toán toàn bộ nợ gốc và nợ lãi phát sinh tạm tính đến ngày 14/02/2022 là 6.756.920 đồng, trong đó nợ gốc là 3.884.039 đồng, lãi quá hạn là 2.872.881 đồng và ông Trương Hoàng V có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 15/02/2022 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suât quy định tại Hợp đồng.

Hội đồng xét xử căn cứ vào Giây đề nghị câp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 19/9/2011, Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định Ngân hàng TMCP S câp thẻ tín dụng cho ông Trương Hoàng V với hạn mức sử dụng là 10.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suât áp dụng theo từng thời kỳ và có thông báo. Xét việc thỏa thuận của các bên là phù hợp theo quy định tại Điều 91 và Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, nên yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở để xem xét.

Sau khi được câp thẻ tín dụng, ông V đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 23.918.000 đồng. Ông V đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền gốc và lãi là 49.392.000 đồng. Từ ngày 25/4/2020, ông V không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Mặc dù, Ngân hàng đã nhắc nhở nhưng ông V vẫn không trả nợ. Như vậy, ông V đã vi phạm Điều 23 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.

Do ông V vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nên ngày 26/07/2020 Ngân hàng đã châm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu là 3.884.039 đồng sang nợ quá hạn là phù hợp theo thỏa thuận các bên tại Điều 23 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng. Cho nên, Ngân hàng yêu cầu ông V thanh toán số tiền nợ còn thiếu là có cơ sở châp nhận theo quy định tại Điều 91 và Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử châp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Trương Hoàng V thanh toán cho Ngân hàng TMCP S số tiền nợ tạm tính đến ngày 14/02/2022 là 6.756.920 đồng, trong đó nợ gốc là 3.884.039 đồng, lãi quá hạn là 2.872.881 đồng. Kể từ ngày 15/02/2022 cho đến khi thi hành án xong, ông Trương Hoàng V còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ chưa thanh toán, theo mức lãi suât mà các bên thỏa thuận trong Giây đề nghị câp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng; Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và ông Trương Hoàng V.

. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được châp nhận, nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn; Hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý về sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 463, Điều 466 và Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 91, Điều 95 và Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

- Căn cứ Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý về sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Châp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

Buộc ông Trương Hoàng V thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền nợ tạm tính đến ngày 14/02/2022 là 6.756.920 (sáu triệu bảy trăm năm mươi sáu nghìn chín trăm hai mươi) đồng, trong đó nợ gốc là 3.884.039 (ba triệu tám trăm tám mươi bốn nghìn không trăm ba mươi chín) đồng và lãi quá hạn là 2.872.881 (hai triệu tám trăm bảy mươi hai nghìn tám trăm tám mươi mốt) đồng.

Kể từ ngày 15/02/2022 cho đến khi thi hành án xong, ông Trương Hoàng V còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ chưa thanh toán, theo mức lãi suât mà các bên thỏa thuận trong Giây đề nghị câp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng; Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và ông Trương Hoàng V.

Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Trương Hoàng V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 337.846 (ba trăm ba mươi bảy nghìn tám trăm bốn sáu) đồng.

- Hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn) đồng cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã nộp theo biên lai số 0036035 ngày 01/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về quyền kháng cáo của các đương sự: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ