vanban.org

Bản án 09/2021/LĐ-ST — Tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Mai im Th về việc tranh chấp “Đòi tiền trợ cấp thôi việc” đối với Công ty H.

Buộc Công ty H phải thanh toán cho bà Mai Kim Th tiền trợ cấp thôi việc là 21.560.500đđồng (Hai mươi mốt triệu năm trăm sáu mươi ngàn năm trăm đồng); ể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) bên có nghĩa vụ chưa thi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động — án lao động — "Bản án lao động giữa Mai Kim Th với Công ty cổ phần H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Mai im Th về việc tranh chấp “Đòi tiền trợ cấp thôi việc” đối với Công ty H.
  • Căn cứ chính? Điều 48 Bộ luật Lao động; Điều 46 Bộ luật Lao động; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

HUYỆN ĐỨC HÒA
TỈNH LONG AN
Bản án số: 09/2021/LĐ-ST
Ngày: 22-11-2021
“Đòi tiền trợ cấp thôi việc”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ng guy n h c Linh Duy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà guy n Thị Rạt;

2. ng guy n Chí Lin;

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Thanh Tú – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa tham gia phiên tòa: Bà guy n Thị Lê Hiền - iểm sát viên.

Trong các ngày 16 và ngày 22 tháng 11 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án lao động thụ lý 06/2021/TLST-LĐ ngày 20 tháng 4 năm 2021 về việc: “Tranh chấp tiền trợ cấp thôi việc” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2021/QĐXXST-LĐ ngày 25 tháng 10 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Mai Kim Th, sinh năm 1966.

Địa chỉ: khu vực 2, thị trấn H, huyện Đức Hoà, tỉnh Long An.

- Bị đơn: Công ty H.

Địa chỉ: khu vực 1, thị trấn H, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

gười đại diện theo pháp luật: ng – Tổng giám đốc. Địa chỉ: số 38E, đường L, phường 2, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh.

( Bà Th có mặt; Ông K có đề nghị vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, nguyên đơn bà Mai Kim Th trình bày:

Bà Mai Kim Th là công nhân có hợp đồng lao động làm việc tại Công ty H (sau đây gọi t t là Công ty mía đường). Từ tháng 01 năm 2016, Công ty mía đường ngưng hoạt động nhưng không thanh toán tiền lương, tiền trợ cấp thôi việc cho bà Th. Trong năm 2019, bà Th có khởi kiện yêu cầu được thanh toán tiền lương nhưng riêng tiền trợ cấp thôi việc đến nay Công ty mía đường chưa thanh toán. ay bà Th căn cứ vào Sổ bảo hiểm xã hội để xác định thời gian tham gia làm việc, mức lương bình quân để khởi kiện yêu cầu thanh toán cho bà Mai Kim Th tiền trợ cấp thôi việc chưa chi trả với số tiền 21.560.500đ (thời gian làm việc của bà Th là 13 năm, từ tháng 3 năm 1996 đến 2008; Lương bà Th hưởng vào tháng 6 năm 2017 là 3.317.000đ);

Tại phiên tòa, bà Mai Kim Th có nộp đơn rút yêu cầu buộc Công ty cổ phần mía đường Hiệp Hòa thanh toán tiền bảo hiểm thất nghiệp.

Đ i v i bị đơn Công ty H:

Sau khi thụ lý, Tòa án đã tiến hành triệu tập và tống đạt hợp lệ nhưng Công ty H vẫn v ng mặt nên không thể tiến hành hòa giải được.

Đến ngày 10/11/2021, ông K là người đại diện theo pháp luật của Công ty H có gửi văn bản trình bày ý kiến: Hiện nay toàn bộ tài sản của Công ty H đã được bán đấu giá để thi hành án, số tiền còn lại từ việc bán đấu giá do Cục thi hành án dân sự tỉnh Long An quản lý. Do đó, nay Công ty H không còn bất kỳ tài sản nào để thi hành án cho người lao động, đề nghị Tòa án căn cứ vào các tài liệu chứng cứ để xem xét yêu cầu khởi kiện của người lao động khách quan, đúng qui định pháp luật. Do tình hình dịch bệnh phức tạp nên ông K đề nghị được v ng mặt trong các buổi hòa giải, tiếp cận công khai chứng cứ và v ng mặt xét xử tại tòa án các cấp.

Bị đơn Công ty H không có yêu cầu phản tố và không cung cấp thêm chứng cứ gì khác.

Quan điểm của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án theo qui định tại Điều 262 BLTTDS năm 2015:

Về thủ tục: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã đưa đúng và đầy đủ người vào tham gia tố tụng, việc thu thập chứng cứ và điều tra vụ án được tiến hành khách quan, đúng pháp luật; không có đương sự khiếu nại trong quá trình giải quyết vụ án. Tham gia trực tiếp tại phiên tòa xét thấy các bên đương sự và Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng qui định pháp luật. Tại phiên tòa nguyên đơn xác định rõ yêu cầu khởi kiện, bị đơn có ý kiến trình bày và đề nghị v ng mặt; bị đơn không có yêu cầu phản tố; các bên không cung cấp thêm chứng cứ gì khác.

Về nội dung vụ án: Bà Mai im Th khởi kiện và có cung cấp đầy đủ Sổ bảo hiểm xã hội, xác nhận quá trình đóng bảo hiểm xã hội, bảng lương để chứng minh người lao động có hợp đồng lao động và có tham gia làm việc thực tế cho Công ty H. Từ tháng 01 năm 2016, Công ty H ngừng hoạt động nhưng đến nay vẫn chưa thanh toán tiền trợ cấp thôi việc cho bà Th là vi phạm các qui định tại Điều 46, Điều 48 Bộ Luật lao động năm 2019. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Mai Kim Th.

Ngoài ra, bà Mai Kim Th có nộp đơn rút yêu cầu buộc Công ty thanh toán tiền bảo hiểm thất nghiệp nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ yêu cầu đòi tiền bảo hiểm thất nghiệp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

au khi nghiên c u các tài liệu có trong h sơ v án đ ợc thẩm tra t i phiên tòa và căn c vào k t qu t h i t i phiên tòa, Hội đ ng t nh n định:

[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Theo đơn khởi kiện, bà Mai im Th căn cứ vào các hợp đồng lao động ký kết với Công ty H để chứng minh có xác lập quan hệ lao động. Căn cứ vào Sổ bảo hiểm xã hội để xác định quá trình tham gia đóng bảo hiểm xã hội, từ đó bà Mai im Th yêu cầu Công ty H thanh toán tiền trợ cấp thôi việc. Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý vụ án lao động xác định quan hệ tranh chấp: “Tranh chấp đòi tiền trợ cấp thôi việc”, việc thụ lý là đúng thẩm quyền theo quy định tại các Điều 32, Điều 35 BLTTDS năm 2015.

[2]. Về tố tụng:

. Về điều kiện khởi kiện: bà Mai Kim Th khởi kiện “Tranh chấp đòi tiền trợ cấp thôi việc” đối với Công ty H. Tranh chấp được các cơ quan quản lý lao động huyện Đức Hòa tổ chức hòa giải tại biên bản ngày 11/8/2020, tranh chấp đã thực hiện thủ tục hòa giải trước khi khởi kiện là thực hiện theo đúng thủ tục quy định tại Điều 188 của Bộ luật lao động năm 2019. Do đó, bà Mai im Th có quyền khởi kiện tranh chấp lao động tại Tòa án theo quy định tại Điều 32, Điều 35, Điều 188 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

. Về sự v ng mặt của bị đơn: Bị đơn Công ty H có đề nghị v ng mặt tại phiên tòa nên Tòa án xét xử v ng mặt bị đơn theo qui định khoản 2 Điều 227 BLTTDS năm 2015;

[3]. Về nội dung:

X t yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thì xác định bà Mai Kim Th là công nhân của Công ty mía đường. Quá trình làm việc bà Mai Kim Th tham gia đầy đủ và thực hiện đúng các chế độ của người lao động. Tuy nhiên, từ tháng 01 năm 2016 đến nay, Công ty mía đường dừng hoạt động nhưng chưa thanh toán tiền và các chế độ cho bà Th. Nay bà Mai Kim Th khởi kiện yêu cầu Công ty mía đường phải thanh toán tiền trợ cấp thôi việc theo qui định pháp luật.

. Hội đồng xét xử nhận định:

. Căn cứ vào Sổ bảo hiểm xã hội, Bản xác nhận quá trình tham gia đóng bảo hiểm xã hội; Văn bản hướng dẫn số 1063/SLĐTBXHLĐVL&GD ngày 07/4/2021 và số 3370/SLĐTBXHLĐVL&GD ngày 22/10/2021 của Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Long An; Căn cứ văn bản trình bày ý kiến ngày 10/11/2021 của ông K là người đại diện theo pháp luật của Công ty cổ phần mía đường Hiệp Hòa:

Hội đồng xét xử thấy: thực tế Công ty H đã ngừng hoạt động từ tháng 01 năm 2016 đến nay nhưng Công ty mía đường vẫn chưa thanh toán tiền trợ cấp thôi việc cho bà Mai Kim Th là vi phạm quy định tại Điều 46 Bộ Luật lao động năm 2019. Do đó căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 48 Bộ Luật Lao động năm 2019, bà Mai Kim Th khởi kiện yêu cầu Công ty H phải thanh toán một lần tiền trợ cấp thôi việc là có căn cứ chấp nhận.

. Cơ sở để xác định thời gian làm việc của bà Mai Kim Th: Theo điểm c khoản 3 Điều 14 ghị định 05/2015/ Đ-CP ngày 12 /01/2015 của Chính Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao động: “c. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm của ng ời lao động đ ợc thanh toán theo năm (đủ 12 tháng), tr ờng hợp có tháng lẻ thì từ đủ 01 tháng đ n d i 06 tháng đ ợc thanh toán bằng 1/2 năm; từ đủ 06 tháng trở lên đ ợc thanh toán bằng 01 năm làm việc”. Do đó, căn cứ vào Bản xác nhận quá trình tham gia đóng bảo hiểm xã hội và Sổ bảo hiểm xã hội của bà Mai Kim Th thì xác định được thời gian làm việc thường xuyên tại Công ty cổ phần mía đường Hiệp Hòa để tính tiền trợ cấp thôi việc.

. Về mức tiền lương để áp dụng tính trợ cấp cho bà Mai Kim Th: Theo qui định tại khoản 3 Điều 46 Bộ luật Lao động năm 2019 qui định: “Tiền l ơng để tính trợ cấp thôi việc là tiền l ơng bình quân theo hợp đ ng lao động của 06 tháng liền kề tr c khi ng ời lao động thôi việc”. ên HĐXX xác định tiền lương để tính tiền tiền trợ cấp thôi việc cho bà Mai Kim Th là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi bà Mai Kim Th thôi việc và tham gia đóng bảo hiểm xã hội để tính tiền trợ cấp thôi việc.

Do đó, tiền trợ cấp thôi việc của bà Mai Kim Th được chi trả với số tiền 21.560.500đ (thời gian của bà Th là 13 năm, từ tháng 3 năm 1996 đến 2008; Lương bà Th hưởng vào tháng 6 năm 2017 là 3.317.000đ)

Bà Mai Kim Th có rút yêu cầu thanh toán tiền bảo hiểm thất nghiệp đối với Công ty H. Hội đồng xét xử xét việc bà Mai Kim Th rút yêu cầu thanh toán tiền bảo hiểm thất nghiệp là tự nguyện nên căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015 để đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Mai im Th .

. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 26 ghị quyết số 326/2016/UBTVQH.14 ngày 30/12/2016 của y ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án. Buộc bị đơn Công ty H phải chịu án phí lao động sơ thẩm sung ngân sách hà nước.

(Số tiền trợ cấp thôi việc Công ty H phải trả cho bà Mai im Th là 21.560.500đồng, án phí lao động sơ thẩm phải nộp là 646.815đồng)

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 32, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm c khoản 1 Điều 217, khoản 2 Điều 227, Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 274, Điều 280, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 46, Điều 48 Bộ Luật lao động năm 2019;

Tuyên Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Mai im Th về việc tranh chấp “Đòi tiền trợ cấp thôi việc” đối với Công ty H.

2. Buộc Công ty H phải thanh toán cho bà Mai Kim Th tiền trợ cấp thôi việc là 21.560.500đđồng (Hai mươi mốt triệu năm trăm sáu mươi ngàn năm trăm đồng);

3. ể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) bên có nghĩa vụ chưa thi hành xong số tiền trên thì còn phải trả cho bên được thi hành án khoản tiền lãi suất theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

4. Đình chỉ yêu cầu của bà Mai im Th về việc yêu cầu Công ty mía đường Hiệp Hòa chi trả tiền bảo hiểm thất nghiệp.

5. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 26 ghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của y ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc Công ty H phải nộp 646.815đồng (Sáu trăm bốn mươi sáu ngàn tám trăm mười lăm đồng) án phí lao động sơ thẩm sung ngân sách hà nước. Công ty H chưa nộp.

6. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo xin xử phúc thẩm. Riêng bị đơn Công ty H v ng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc từ ngày niêm yết.

7. “Trường hợp bản án hoặc quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án là 05 năm theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án”.

Cỡ chữ