- Tranh chấp gì? Tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp — án lao động — "Nguyễn Trọng Nh và Công Ty PHạm Tôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Trọng Nh đối với bị đơn Công ty TNHH Ph T và bị đơn Công ty TNHH Ph T BD về việc “Tranh chấp bảo hiểm xã hội”:
- Căn cứ chính? Điều 21 Luật Bảo hiểm xã hội; Điều 47 Bộ luật Lao động; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Ĩ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG —————————— Bản án số: 09/2021/LĐ-ST Ngày 30-11-2021 V/v tranh chấp về bảo hiểm xã hội |
NH DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Ĩ AN, T NH B NH Ư NG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Vân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Thu Vân - Cử Nh luật.
2. Ông Nguyễn Văn Hoàn - Cán bộ hƣu trí.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Anh - Thƣ ký Tòa án Nh dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Xuân Tình - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Lao động thụ lý số: 52/2020/TLST-LĐ ngày 09 tháng 10 năm 2020 về việc “Tranh chấp bảo hiểm xã hội” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 14/2021/QĐXXST-LĐ ngày 08 tháng 7 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2021/QĐST-LĐ ngày 06 tháng 8 năm 2021, Thông báo mở lại phiên ngày 15 tháng 10 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2021/QĐST-LĐ ngày 03 tháng 11 năm 2021, giữa các đƣơng sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Trọng Nh, sinh năm 1984; địa chỉ: Tổ 16, ấp B, xã B, thành phố L, tỉnh Đ. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn:
1/ Công ty TNHH Ph T BD; địa chỉ: Số 53/3 đƣờng Ng, khu phố T, phƣờng T, thành phố D, tỉnh B. Vắng mặt.
2/ Công ty TNHH Ph T ; địa chỉ: Số 1191 L, Phƣờng A, quận G, Thành phố H. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bảo hiểm xã hội thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng, địa chỉ: Trung tâm hành chính thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng.
Ngƣời đại diện hợp pháp: Ông Dƣơng Văn Tr; chức vụ: Nh viên Bảo hiểm xã hội thành phố D; là ngƣời đại diện theo ủy quyền. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI UNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 28 tháng 9 năm 2020, đơn khởi kiện bổ sung ngày 27 tháng 10 năm 2020 và các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Nguyễn Trọng Nh trình bày: Ông Nguyễn Trọng Nh làm việc tại Công ty TNHH Ph T (gọi tắt là Công ty Ph T ) từ năm 2012, có ký kết hợp đồng lao động và tham gia bảo hiểm xã hội từ tháng 9/2013. Hàng tháng công ty đều trích tiền lƣơng của ông để đóng bảo hiểm. Theo thông báo của Công ty Ph T thì hết tháng 01/2018, ông Nh chấm dứt hợp đồng lao động với Công ty Ph T và ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH Ph T BD (gọi tắt là Công ty Ph T BD) từ ngày 01/02/2018, nơi làm việc không thay đổi. Ông Nh vẫn tiếp tục tham gia bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội thành phố D. Đến khoảng hết tháng 7/2018, ông Nh chính thức nghỉ việc. Ông Nh có yêu cầu công ty chốt sổ bảo hiểm xã hội để ông đƣợc hƣởng các trợ cấp bảo hiểm xã hội theo quy định nhƣng các bị đơn không thực hiện làm ảnh hƣởng đến quyền lợi của ông. Công ty Ph T có trụ sở tại quận G, Thành phố H nhƣng ông Nh làm việc tại chi nhánh của công ty đặt tại khu phố T, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng và tham gia bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội thành phố D nên khởi kiện tại Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An.
Ông Nh đã đƣợc Công ty Ph T đóng tiền bảo hiểm xã hội đến tháng 5/2016 và Công ty Ph T BD đóng tiền bảo hiểm tháng 02/2018 nên xác định yêu khởi kiện buộc Công ty TNHH Ph T có trách nhiệm chốt sổ bảo hiểm xã hội cho ông Nh từ tháng 06/2016 đến tháng 01/2018. Buộc Công ty TNHH Ph T BD có trách nhiệm chốt sổ bảo hiểm xã hội cho ông Nh từ tháng 02/2018 đến tháng 7/2018.
Các bị đơn Công ty TNHH Ph T và Công ty TNHH Ph T BD đã đƣợc Tòa án thông báo tham gia tố tụng, thông báo yêu cầu cung cấp chứng cứ, tống đạt các văn bản tố tụng, yêu cầu tham gia phiên họp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhƣng các bị đơn không đến Tòa án làm việc, không cung cấp lời khai, không có yêu cầu phản tố, không cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Ngƣời đại diện hợp pháp của ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội thành phố D trình bày:
Chi nhánh Công ty Ph T tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp tại Bảo hiểm xã hội thành phố D từ tháng 03/2011. Tính đến tháng 11/2020, Chi nhánh Công ty Ph T còn nợ số tiền là 4.181.479.752 đồng, đã nộp tiền bảo hiểm xã hội đến hết tháng 05/2016. Công ty Ph T tham gia bảo hiểm xã hội cho ông Nguyễn Trọng Nh với số sổ 7413057751 bắt đầu từ tháng 09/2013 đến tháng 01/2018 (chƣa chốt sổ bảo lƣu). Bảo hiểm xã hội D đề nghị Công ty Ph T thanh toán số tiền nợ bảo hiểm xã hội của ông Nguyễn Trọng Nh từ tháng 06/2016 đến tháng 01/2018 và làm hồ sơ bảo lƣu bảo hiểm xã hội để Bảo hiểm xã hội Dĩ An bảo lƣu sổ, trả sổ cho ông Nh theo đúng quy định.
Công ty Ph T BD tham bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp tại Bảo hiểm xã hội thành phố Dĩ An từ tháng 02/2018. Tính đến tháng 11/2020, Công ty Ph T BD còn nợ số tiền là 3.478.381.449 đồng, đã nộp tiền bảo hiểm xã hội hết tháng 02/2018. Công ty Ph T BD tham gia bảo hiểm xã hội cho ông Nh tại Bảo hiểm D với số sổ 7413057751 từ tháng 02/2018 đến tháng 07/2018 (chƣa chốt sổ bảo lƣu). Bảo hiểm xã hội D đề nghị Công ty Ph T BD thanh toán số tiền nợ bảo hiểm xã hội của ông Nh từ tháng 03/2018 đến tháng 07/2018 và làm hồ sơ bảo lƣu bảo hiểm xã hội để Bảo hiểm xã hội D bảo lƣu sổ, trả sổ cho ông Nh theo đúng quy định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trƣớc thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thƣ ký phiên tòa và ngƣời tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Nguyên đơn và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, các bị đơn đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ nhƣng vắng mặt nên căn cứ vào các Điều 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đúng quy định. Về nội dung vụ án: Căn cứ vào tài liệu chứng cứ Tòa án thu thập và các đƣơng sự cung cấp đã đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
1 Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn Công ty TNHH Ph T BD có trụ sở tại số 53/3 Ng, khu phố T, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng; đối với bị đơn Công ty TNHH Ph T thì nguyên đơn lựa chọn Tòa án giải quyết nơi tổ chức có chi nhánh và nơi nguyên đơn làm việc tại số 53/3 Ng, khu phố T, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An theo điểm d khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Các bị đơn Công ty TNHH Ph T và Công ty TNHH Ph T BD không có yêu cầu phản tố, đã đƣợc Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan; nguyên đơn và ngƣời đại diện theo ủy quyền của ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội D có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Về nội dung:
Xét quan hệ lao động giữa ông Nguyễn Trọng Nh với Công ty TNHH Ph T và Công ty TNHH Ph T BD. Ngƣời lao động không cung cấp đƣợc đầy đủ các hợp đồng lao động. Quá trình giải quyết vụ án ngƣời sử dụng lao động đƣợc Tòa án yêu cầu cung cấp chứng cứ nhƣng không cung cấp. Tuy nhiên, xét quá trình tham gia bảo hiểm tại cơ quan Bảo hiểm xã hội D thì có căn cứ khẳng định giữa ông Nguyễn Trọng Nh với Công ty TNHH Ph T và Công ty TNHH Ph T BD có tồn tại mối quan hệ lao động.
Từ tháng 02/2018, ông Nh chấm dứt hợp đồng lao động với Công ty TNHH Ph T và đến hết tháng 7/2018, ông Nh chấm dứt hợp đồng với Công ty TNHH Ph T BD. Việc chấm đứt hợp đồng lao động là tự nguyện nhƣng Công ty TNHH Ph T và Công ty TNHH Ph T BD không hoàn tất thủ tục để xác nhận quá trình tham gia bảo hiểm xã hội cho ông Nh làm ảnh hƣởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy rằng: Việc đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc là trách nhiệm của ngƣời sử dụng lao động và ngƣời lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 19 và khoản 2 Điều 21 Luật Bảo hiểm xã hội. Theo tài liệu, chứng cứ nguyên đơn và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội Dĩ An cung cấp có căn cứ xác định: Công ty Ph T có đăng ký tham gia bảo hiểm xã hội cho ông Nguyễn Trọng Nh bắt đầu từ tháng 9/2013 đến tháng 01/2018 nên hàng tháng phải có trách nhiệm đóng đủ bảo hiểm xã hội bắt buộc cho ông Nh. Ông Nh nghỉ việc tại Công ty Ph T từ tháng 02/2018 nên thời gian đóng bảo hiểm xã hội cho ông Nh phải tính đến hết tháng 01/2018 và nghỉ việc tại Công ty Ph T BD từ tháng 8/2018 nên thời gian tính bảo hiểm xã hội cho ông Nh phải tính đến hết tháng 7/2018. Nhƣ vậy, việc Công ty Ph T và Công ty Ph T BD trừ lƣơng của ngƣời lao động hàng tháng nhƣng không đóng tiền bảo hiểm xã hội, không xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội cho nguyên đơn là vi phạm quy định pháp luật, làm ảnh hƣởng đến quyền lợi hợp pháp của nguyên đơn theo quy định tại khoản 2 và khoản 5 Điều 21 Luật bảo hiểm xã hội, khoản 2 và khoản 3 Điều 47 Bộ luật Lao động năm 2012 nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận.
Theo thông tin xác minh từ Sở Kế hoạch - Đầu tƣ Thành phố Hồ Chí Minh và Sở Kế hoạch - Đầu tƣ tỉnh Bình Dƣơng thì Công ty Ph T và Công ty Ph T BD vẫn đăng ký hoạt động, không thay đổi địa chỉ trụ sở theo giấy đăng ký doanh nghiệp. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhiều lần triệu tập ngƣời đại diện theo pháp luật của Công ty Ph T và Công ty Ph T BD để làm việc, hòa giải, cung cấp chứng cứ liên quan đến yêu cầu khởi kiện của ngƣời lao động nhƣng các bị đơn đều vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến, không cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu. Do đó, Công ty Ph T và Công ty Ph T BD phải chịu hậu quả pháp lý về sự vắng mặt của mình.
Từ những phân tích trên có đủ sơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ý kiến đề xuất giải quyết vụ án của Kiểm sát viên là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật.
Về án phí: Công ty Ph T và Công ty Ph T BD phải chịu án phí lao động sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ các Điều 144, 147, 227, 228, 235, 238, 244, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ khoản 2 và khoản 3 Điều 47, Điều 186 Bộ luật Lao động năm 2012;
- Căn cứ Điều 18, Điều 19, khoản 2 và khoản 5 Điều 21 Luật Bảo hiểm xã hội;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Trọng Nh đối với bị đơn Công ty TNHH Ph T và bị đơn Công ty TNHH Ph T BD về việc “Tranh chấp bảo hiểm xã hội”:
- Buộc Công ty TNHH Ph T phải xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội của ông Nguyễn Trọng Nh từ tháng 06/2016 đến tháng 01/2018.
- Buộc Công ty TNHH Ph T BD phải xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội của ông Nguyễn Trọng Nh từ tháng 03/2018 đến tháng 07/2018.
2. Về án phí lao động sơ thẩm:
- Ông Nguyễn Trọng Nh không phải nộp.
- Công ty TNHH Ph T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng).
- Công ty TNHH Ph T BD phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng).
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết theo quy định.
4. Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND TP Dĩ An; - Chi cục THADS TP Dĩ An; - Đƣơng sự; - Lƣu: VT; HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ S THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Thị Vân |