- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Hoàn Nhân trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Hoàn N phạm tôi “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN N DÂN THỊ XÃ CỬA LÒ- NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2021/HSST Ngày 12/3/2021 |
N DA
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN N DÂN THỊ XÃ CỬA LÒ, TỈNH NGHỆ AN
Tphần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: ông Hoàng Thế L.
Các hội thẩm N dân:
1. Ông Nguyễn Đức A.
2. Bà Nguyễn Thị Trà Gi. Thư ký Tòa phiên tòa: bà Phan Thị Thúy L- Thư ký Tòa án N dân TXCL. Đại diện Viện kiểm sát N dân TXCL tham gia phiên tòa: Ông Phùng Tiến C- Kiểm sát viên.
Trong các ngày 11; 12 tháng 3 năm 2021, tại tòa án N dân, TXCL mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công K vụ án hình sự thụ lý số 04/2021/TLST- HS ngày 01/02/2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2021/ QĐXXST- HS ngày 25 /02/2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Hoàn N, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.
Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1973 tại huyện Ph Đ, tỉnh Th Th H.
Nơi cư trú: thôn Lương Mai, xã Phong C, huyện Ph Đ, tỉnh Th Th H.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.
Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Trình độ học vấn: 09/12.
Họ tên cha: Trần Phẩm, sinh năm 1950.
Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Hồng Cúc, sinh năm 1954.
Cùng trú tại thôn Lương Mai, xã Phong C, huyện Ph Đ, tỉnh Th Th H.
A chị em ruột có 05 người, Trần Hoàn N là con đầu.
Vợ: Nguyễn Thị Trang, sinh năm 1975 (đã ly hôn).
Con: Có hai con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2004.
Hiện cư trú tại tỉnh Lâm Đồng.
Tiền án; tiền sự: Chưa.
N thân:
- Ngày 23 tháng 02 năm 1994 bị Công an tỉnh Q B lập dA chỉ bản về hành vi Trộm cắp tài sản của công dân; bị Tòa án N dân thị xã Đ H , tỉnh Q B xử phạt 1 năm 6 tháng tù, tại Bản án số 28/ST ngày 19 tháng 7 năm 1994. Qúa trình thi hành án Trần Hoàn N trốn khỏi nơi giam giữ. Ngày 26 tháng 7 năm 1995 bị Tòa Phúc thẩm Tòa án N dân tối cao tại Đ N xét xử, tổng hợp hình phạt 3 năm 6 tháng 6 ngày về các tội Trộm cắp tài sản công dân, Trốn khỏi nơi giam tại Bản án phúc thẩm hình sự số 350 ngày 26 tháng 7 năm 1995. Đã chấp hành xong bản án ngày 31 tháng 10 năm 1996, (BL 100-110).
Bị cáo Trần Hoàn N bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Tạm giữ, tạm giam” từ ngày 27/11/2020 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh N A.
*Người bị hại: Chị Hoàng Thị Thu H, sinh năm 2001. Trú quán: Khối M T, phường Ngh H, TXCL, tỉnh N A. Vắng mặt.
*Người có quyền và nghĩa vụ liên quan: A Đào Ngọc Thành, sinh năm 1982. Trú tại: Khối Tân Phong, phường Lê Mao, TP V, N A. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 27 tháng 11 năm 2020, Trần Hoàn N, sinh năm 1973, trú tại xã Phong C, huyện Ph Đ, tỉnh Th Th H đến uống cà phê ở quán Cổng Xưa, thuộc khối 1, phường Ngh Th, TXCL, tỉnh N A. Tại đây, Trần Hoàn N thấy một chiếc điện thoại di động Iphone 7Plus màu đen đang xạc pin ở trên bàn của quán Cổng Xưa. L dụng lúc không có người để ý, Trần Hoàn N đã lấy trộm chiếc điện thoại Iphone 7Plus rồi cất dấu vào túi quần. Sau khi lấy trộm được tài sản, Trần Hoàn N bắt xe ôm đến ki ốt sửa chữa điện thoại TL ở đường Nguyễn Thị Minh K, phường Lê Mao, Tphố V, tỉnh N A bán cho A Đào Ngọc Tvới giá 980.000 đồng (chín trăm tám mươi nghìn đồng).
Sau khi mất chiếc điện thoại Iphone 7Plus, chị Hoàng Thị Thu H, sinh năm 2001, trú tại khối M T, phường Ngh H, TXCL, là N viên của quán cà phê Cổng Xưa đã đến Công an phường Ngh Th, TXCL trình báo sự việc. Vào lúc 17 giờ 30 phút cùng ngày, Trần Hoàn N đến Công an phường Ngh Th, TXCL đầu thú về hành vi phạm tội của mình. Tổ công tác Công an phường Ngh Th, TXCL tiến hành thu giữ chiếc điện thoại di động Iphone 7Plus màu đen mà Trần Hoàn N đã bán cho A Đào Ngọc Tvà chuyển đối tượng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TXCL xử lý. Ngày 30/11/2020, Cơ quan CSĐT Công an TXCL trưng cầu Hội đồng định giá Uỷ ban N dân TXCL định giá chiếc điện thoại di động Iphone 7Plus màu đen, số Imei 359179079680962. Ngày 02/12/2020, Hội đồng định giá Uỷ ban N dân TXCL, tỉnh N A có Kết luận định giá tài sản số 566/HĐĐG kết luận: Chiếc điện thoại di động Iphone 7Plus màu đen, đã qua sử dụng, số Imei 359179079680962 có giá trị 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng), (BL 76).
Tại Cơ quan CSĐT Công an TXCL, Trần Hoàn N đã Tkhẩn K nhận hành vi phạm tội. Lời K của Trần Hoàn N phù hợp với lời K của người bị hại, người có quyền L và nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ điều tra khác, (BL 31-49; 50-67).
Vật chứng vụ án và xử lý:
- Một chiếc điện thoại di động Iphone 7Plus màu đen, số Imei 359179079680962. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TXCL đã trả lại tài sản trên cho chị Hoàng Thị Thu H. Chị Hoàng Thị Thu H không yêu cầu gì thêm.
Tại bản cáo trạng số 10/CT- VKS- CL ngày 29 tháng 01 năm 2021, Viện kiểm sát N dân TXCL đã truy tố Trần Hoàn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với Trần Hoàn N về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, Điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51BLHS xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù.
Tại phiên tòa, bị cáo K nhận hành vi phạm tội đúng như bản cáo trạng đã nêu và xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trA tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an TXCL, điều tra viên, Viện kiểm sát N dân TXCL, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều được thực hiện hợp pháp.
. Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Trần Hoàn N hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo. Lời K nhận của bị cáo phù hợp với lời K tại cơ quan điều tra, lời K của người bị hại, người liên quan, cũng như các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 27 tháng 11 năm 2020, tại quán cà phê Cổng Xưa thuộc khối 1, phường Ngh Th, TXCL, tỉnh N A, Trần Hoàn N, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1973, trú tại thôn Lương Mai, xã Phong C, huyện Ph Đ, tỉnh Th Th H có hành vi lấy trộm một chiếc điện thoại di động Iphone 7Plus của chị Hoàng Thị Thu H, sinh năm 2001, trú tại khối M T, phường Ngh H, TXCL, tỉnh N A. Do đó, Viện kiểm sát N dân TXCL truy tố bị cáo Trần Hoàn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS là có căn cứ.
. Về tính chất vụ án: Vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, hành vi của bị cáo đã làm mất trật tự trị an tại địa phương. Việc đưa bị cáo ra xét xử bằng bản án hình sự là hoàn toàn thỏa đáng, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, N thân của bị cáo:
Tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra bị cáo đã Tkhẩn K báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo N đã chuộc điện thoại để trả cho người bị hại khắc phục hậu quả và đã ra đầu thú trước cơ quan công an. Do vậy cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b; s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. bị cáo có N thân xấu đã bị Tòa án N dân thị xã Đồng Hới, tỉnh Q B xử phạt 1 năm 6 tháng tù, tại Bản án số 28/ST ngày 19 tháng 7 năm 1994. Qúa trình thi hành án Trần Hoàn N trốn khỏi nơi giam giữ, bị Tòa Phúc thẩm Tòa án N dân tối cao tại Đ N xét xử, tổng hợp hình phạt 3 năm 6 tháng 6 ngày về các tội Trộm cắp tài sản công dân, Trốn khỏi nơi giam tại Bản án phúc thẩm hình sự số 350 ngày 26 tháng 7 năm 1995. Đã chấp hành xong bản án ngày 31 tháng 10 năm 1996. Do vậy cần lên cho bị cáo một mức án đủ nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, tạo điều kiện cho bị cáo cải tạo tốt sớm hòa nhập cộng đồng.
Bị cáo Trần Hoàn N việc làm không ổn định và thu nhập thấp, không có tài sản riêng. Do vậy không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo. Đối với A Đào Ngọc Tlà người mua điện thoại di động của bị cáo, nhưng A Tđã không biết đó là tài sản trộm cắp mà có. Do vậy không có căn cứ khởi tố đối với A.
. Về dân sự: Tài sản đã được trả lại cho người bị hại và số tiền 980.000đ mà bị cáo bán điện thoại cho A Tvà bị cáo đã chuộc lại, nay không ai có yêu cầu gì thêm nên hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b; s khoản 1; khoản 2 Điều 51 BLHS,
Tuyên bố: Bị cáo Trần Hoàn N phạm tôi “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Trần Hoàn N 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam( Ngày 27/11/2020).
Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Nghị quyết 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội. Buộc bị cáo Trần Hoàn N, phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Người bị hại , người có quyền và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
| Nơi nhận: - Bị cáo; người bị hại; - VKSND TXCL; - Công an TXCL; - Chi cục THA Dân sự TX.CL; - TAND tỉnh N A; - Sở Tư pháp N A. - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thế L |