- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hoàng D phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Bộ luật Dân sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC HÀ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2021/ HSST Ngày 19/ 3/ 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC HÀ - HÀ TĨNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Xuân Quang.
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Phan Tùng Long. Giáo viên nghỉ hưu
- Ông Trần Văn Trường.
Thư ký phiên toà:
- Bà Lê Thị Thủy. Thư ký Tòa án
Đại diện VKSND huyện Lộc Hà tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Xuân Định.
Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 3 năm 2021 tại hội trường xét xử, Tòa án nhân dân huyện
Lộc Hà đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 10/2021/TLST-HS ngày 04 tháng 2 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2021/HSST-QĐ ngày 05/3/2021 đối với bị cáo:
NGUYỄN HOÀNG D; tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày:
04/7/2002 tại xã T, huyện L, tỉnh H; Nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện L, tỉnh H; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Thiên Chúa giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Con ông: Nguyễn Văn H; sinh năm: 1969; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con bà: Phạm Thị P; sinh năm: 1974. Nghề nghiệp: Buôn bán; Đều trú tại thôn L, xã T, huyện L, tỉnh H; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 23/6/2020, TAND huyện Lộc Hà tuyên phạt Nguyễn Hoàng D 20 tháng tù cho nhưng hưởng án treo, thời gian thử thách 40 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 14/12/2020 đến nay.
Có mặt tại phiên tòa
Người bị hại: Anh Nguyễn Hoàng S; Sinh năm 1991; Trú quán: Thôn
L, xã T, huyện L, tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa
- Chị Phạm Thị Kim D; Sinh năm 1995; Trú quán: Thôn L, xã T, huyện L,
tỉnh H. Vắng mặt tại phiên tòa
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: - Chị Phạm Thị P; Sinh năm
1974; Nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện L, tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa
Người làm chứng:
- Cháu Nguyễn Văn C; Sinh năm 2003; Thôn H, xã T, huyện L, tỉnh H.
Vắng mặt tại phiên tòa
- Chị Nguyễn Thị Sao M; sinh năm 1996; Nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện
L, tỉnh H. Vắng mặt tại phiên tòa
- Chị Trần Thị Hồng N; Sinh năm 1983; Nơi cư trú: Tổ dân phố P, thị trấn
L, huyện L, tỉnh H. Vắng mặt tại phiên tòa
- Hoàng Thế P; Sinh năm 1995; Nơi cư trú: Tổ dân phố P, thị trấn L,
huyện L, tỉnh H. Vắng mặt tại phiên tòa
- Anh Nguyễn Hồng L; Sinh năm 1967; Nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện
L, tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa
- Anh Nguyễn Vũ L; sinh năm 2002. Nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện L,
tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa
- Chị Nguyễn Thị L; Sinh năm 1978; Nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện L,
tỉnh H. Vắng mặt tại phiên tòa
- Cháu Hoàng Công C; Sinh ngày 17/10/2003; Nơi cư trú: Thôn L, xã T,
huyện L, tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa
Người đại diện hợp pháp cho cháu Hoàng Công C: Chị Nguyễn Thị H;
Sinh năm 1962; Nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện L, tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại
phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên Nguyễn Hoàng D (bị án đang chấp hành
án phạt tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”) đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. D lựa chọn khung giờ từ 19 giờ đến 20 giờ là thời điểm người dân đi lễ ở nhà thờ và không có người ở nhà để đột nhập lấy trộm tài sản. Thực hiện ý định đó, vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 10/12/2020, Nguyễn Hoàng D một mình đi bộ xung quanh nhà dân ở thôn L, xã T. Khi D đi qua nhà anh Nguyễn Hoàng S thấy trong nhà có ánh điện, cửa chính đóng. Thấy vậy, D nghĩ trong nhà anh S không có người nên quyết định đột nhập vào nhà lấy trộm tài sản. D trèo lên bờ rào nhà anh S rồi leo lên mái ngói nhà chị Nguyễn Thị L ở sát nhà anh S (lúc này nhà chị L cũng không có ai ở nhà) rồi trèo lên sân thượng tầng hai nhà anh S. Khi leo lên đến sân thượng, D thấy cửa đóng chứ không khóa nên D đột nhập vào nhà. D đi theo lối cầu thang xuống tầng một và đi vào phòng ngủ của anh S thì phát hiện thấy 01 nhẫn tròn (dạng nhẫn cưới) để ở bàn trang điểm nên đã lấy trộm chiếc nhẫn này bỏ vào túi quần của mình. D tiếp tục tìm kiếm tài sản rồi đi đến mở tủ quần áo thì thấy ngăn phía trên tủ có một tập tiền Việt Nam đồng. D lấy hết số tiền này bỏ vào túi quần. D tiếp tục tìm kiếm và phát hiện ở ngăn phía dưới của tủ quần áo có 01 túi xách làm bằng da. Mở túi xách ra thì thấy 01 hộp màu đỏ, bên trong có 01 vòng cổ (gồm 02 đoạn) làm bằng kim loại màu vàng. D lấy chiếc vòng cổ này rồi khép tủ lại. Sau khi lấy trộm được tài sản, D đi ra theo lối cũ rồi đi về nhà mình. D cất giấu 01 nhẫn và 01 vòng cổ làm bằng kim loại màu vàng ở mái ngói tầng hai nhà mình. Còn số tiền mà D lấy trộm thì D kiểm đếm được 3.800.000 đồng.
Sau khi cất dấu tài sản trộm được ở nhà, D đi ra rủ Hoàng Công C đi cùng
D đến cửa hàng điện thoại di động P ở thị trấn L để chuộc lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu vàng đồng (do chị Nguyễn Thị Sao M, chị gái D cho) mà D đã cầm cố trước đó. D trả số tiền 820.000 đồng cho anh Hoàng Thế P rồi lấy điện thoại về. D chở C đi về nhà thờ giáo xứ T ở xã T còn D đi đến phòng vé máy bay N ở thị trấn H, huyện L nhờ chị Trần Thị Hồng N chuyển khoản số tiền 2.000.000 đồng vào tài khoản số 3712205063281 tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn (Agribank) của bà Trần Thị T (tài khoản này do anh Nguyễn Văn C con trai bà T quản lý, sử dụng) với phí chuyển khoản 20.000 đồng. D liên lạc qua Messenger nhờ anh C chuyển số tiền 2.000.000 đồng này vào tài khoản game “Duongtk000” trên trang mạng Bum88.club. D đã sử dụng tiền trong tài khoản game này để đánh bạc với người khác trên mạng Internet và thua hết. Số tiền còn lại D đã sử dụng vào việc ăn uống, tiêu xài cá nhân hết.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Hoàng
D đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại bản Cáo trạng số 09/CT-VKSLH ngày 05 tháng 02 năm 2021 của
Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện VKSND huyện Lộc Hà đề nghị Hội đồng
xét xử xem xét xử phạt Nguyễn Hoàng D từ 10 tháng đến 15 tháng tù và tổng hợp hình phạt của bản án số 14/2020/HSST ngày 23/6/2020 buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là từ 30 tháng đến 35 tháng tù
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Người bị hại đã được bồi
thường đầy đủ, không yêu cầu gì thêm và vật chứng đã xử lý trong quá trình điều tra nên đề nghị Tòa miễn xét.
Tại phiên tòa hôm nay, chị Phạm Thị P yêu cầu bị cáo phải bồi thường số
tiền là 3.800.000đ nên đề nghị HĐXX buộc bị cáo phải bồi thường cho chị P số tiền trên.
Bị cáo, người bị hại: Không tranh luận gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã
được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lộc
Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
2. Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của
người bị hại, người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu khác thu thập có được trong hồ sơ vụ án cho thấy: Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 10/12/2020, Nguyễn Hoàng D (bị án đang chấp hành hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”) đã có hành vi lén lút đột nhập vào nhà anh Nguyễn Hoàng S lấy trộm 01 nhẫn, 01 vòng cổ đều làm bằng kim loại bằng vàng và số tiền 3.800.000 đồng.
Tại Kết luận giám định số 101/C09-P4 của Viện khoa học hình sự Bộ
Công an kết luận: 01 nhẫn làm bằng kim loại màu vàng , mặt nhẫn gắn 10 viên đá nhỏ không màu, mặt trong có các chữ số, số “S♥D 4.12.20” có tổng khối lượng 1,76 gam (tính cả đá); phần kim loại màu vàng là hợp kim của vàng (Au), đồng (Cu), bạc (Ag), kẽm (Zn); hàm lượng trung bình Au: 53,59%, Cu: 32%, Ag: 10,48%, Zn: 3,93%. 02 đoạn kim loại màu vàng đều có hoa văn, trên đoạn to có các chữ, số “980GF”, trên đoạn nhỏ có các chữ “H.PHU BA.CHI H♦P”; bên trong 02 đoạn kim loại đều có lõi bằng xi màu nâu và dây kim loại màu xám có tổng khối lượng 41,61 gam (tính cả lõi xi màu nâu và dây kim loại màu xám); phần kim loại màu vàng đều là vàng (Au); hàm lượng trung bình Au: 98,39%, ngoài ra còn có bạc (Ag); hàm lượng trung bình Ag: 1,61%.
Tại Kết luận định giá số 01/TB-TĐGĐ ngày 26/01/2021 của Hội đồng
định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện Lộc Hà kết luận: 01 nhẫn làm bằng kim loại màu vàng , mặt nhẫn gắn 10 viên đá nhỏ không màu, mặt trong có các chữ số, số “S♥D 4.12.20” có tổng khối lượng 1,76 gam (tính cả đá); phần kim loại màu vàng là hợp kim của vàng (Au), đồng (Cu), bạc (Ag), kẽm (Zn); hàm lượng trung bình Au: 53,59%, Cu: 32%, Ag: 10,48%, Zn: 3,93% trị giá 1.700.000 đồng. 02 đoạn kim loại màu vàng đều có hoa văn, trên đoạn to có các chữ, số “980GF”, trên đoạn nhỏ có các chữ “H.PHU BA.CHI H♦P”; bên trong 02 đoạn kim loại đều có lõi bằng xi màu nâu và dây kim loại màu xám có tổng khối lượng 41,61 gam (tính cả lõi xi màu nâu và dây kim loại màu xám); phần kim loại màu vàng đều là vàng (Au); hàm lượng trung bình Au: 98,39%, ngoài ra còn có bạc (Ag); hàm lượng trung bình Ag: 1,61% trị giá 15.500.000 đồng.
Tổng trị giá tài sản bị cáo trộm được mà có là 21.000.000đ.
Vì vậy Tòa xét thấy có đầy đủ các căn cứ để xét xử bị cáo Nguyễn Hoàng
D về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 điều 173 - BLHS như Cáo trạng của VKS đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Hoàng D đã bị Tòa án nhân dân huyện
Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 20 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 40 tháng theo Bản án số 14/2020/HSST ngày 23/6/2020. Mặc dù không coi là có án tích nhưng thời điểm phạm tội của bị cáo vào ngày 10/12/2020 bị cáo đang chấp hành án treo. Điều này thể hiện bị cáo coi thường pháp luật. Do đó Tòa cần áp dụng khoản 2 Điều 56; khoản 5 Điều 65-BLHS tổng hợp hình phạt của hai bản án buộc bị cáo phải chấp hành chung cả hai bản án.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã
thành khẩn khai báo; tự nguyện bồi thường thiệt hại và người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Do đó Tòa cần áp dụng các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51-BLHS
xem xét giảm nhẹ cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật khi quyết định hình phạt nhưng dù có xem xét chiếu cố cho bị cáo Tòa xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội. Tại phiên tòa hôm nay, đại diện VKSND huyện Lộc Hà đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo từ 10 tháng đến 15 tháng tù Tòa xét thấy mức hình phạt mà đại diện VKSND huyện Lộc Hà đề nghị là phù hợp với tính chất mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo.
3. Về trách nhiệm dân sự: Trong vụ án này, người bị hại đã được bồi
thường đầy đủ, nhận lại đầy đủ các tài sản và không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên Tòa miễn xét.
Tại phiên tòa hôm nay, chị Phạm Thị P yêu cầu bị cáo phải bồi thường số
tiền là 3.800.000đ. Tòa xét thấy yêu cầu của chị P là chính đáng có cơ sở nên buộc bị cáo phải bồi thường cho chị P số tiền 3.800.000đ.
4. Về vật chứng: Trong quá trình điều tra cơ quan điều tra Công an huyện
Lộc Hà đã thu giữ được một số vật chứng sau: - 01 nhẫn làm bằng kim loại màu vàng, mặt nhẫn gắn 10 viên đá nhỏ không màu, mặt trong có các chữ, số “S♥D 4.12.20”; 02 đoạn kim loại màu vàng đều có hoa văn, trên đoạn to có các chữ, số “980GF”, trên đoạn nhỏ có các chữ “H.PHU BA.CHI H♦P”; bên trong 02 đoạn kim loại đều có lõi bằng xi màu nâu và dây kim loại màu xám; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu vàng đồng, IMEI 35 8359066863794, máy đã cũ qua sử dụng. Công an huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh đã trả lại cho các chủ sở hữu nên Tòa miễn xét.
- Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản
5 Điều 65-Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Hoàng D 10 (mười) tháng tù.
Áp dụng khoản 2 Điều 56; khoản 5 Điều 65-BLHS tổng hợp hình phạt 20
tháng tù tại Bản án số 14/2020/HSST ngày 23/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam là ngày 14/12/2020.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 585; khoản 1 Điều 586;
Điều 589-BLDS xử buộc bị cáo phải bồi thường cho chị Phạm Thị P số tiền là 3.800.000đ.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136-BLTTHS;
điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST và 300.000đ án phí DSST.
Báo cho cho bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên
quan có quyền kháng cáo bản án này lên Toà án cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Báo cho cho người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này lên
Toà án cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - TAND cấp cao; - Phòng GĐKT-TAND tỉnh; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - Trại tạm giam-Công an tỉnh Hà Tĩnh; - Công an huyện Lộc Hà; - VKSND huyện Lộc Hà; - Chi cục THA dân sự huyện Lộc Hà; - THA hình sự; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu VP; HS. | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Xuân Quang |