vanban.org

Bản án 09/2021/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 17/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Phạm Thanh T phạm tội "Giết người".

Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 586, 591, Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự. Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và đại diện hợp pháp của người bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bị cáo Phạm Thanh T có trách nhiệm bồi thường cho… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thanh T phạm tội "Giết người" - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Phạm Thanh T phạm tội "Giết người".
  • Căn cứ chính? Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự xử lý; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2021/HS-ST
Ngày 17/3/2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Khánh Hồng

Thẩm phán: Ông Vương Hồng Giang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Thanh Hải; bà Đặng Thị Kim Oanh và ông Hà Minh Tiến.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Khánh Tùng, Thư ký Tòa án nhân dân

tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên

tòa: Bà Trần Thị Ngọc Anh, Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 3 năm 2021, tại Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 02/2021/TLHS-ST ngày 15 tháng 01 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2021/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 03 năm 2021 đối với bị cáo: Phạm Thanh T; (Tên gọi khác: Không); Sinh ngày 06 tháng 7 năm 1987 tại Thái Nguyên; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Xóm TP, xã ĐT, huyện PB, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Dân tộc: kinh; giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn thể: là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam (đã bị đình chỉ sinh hoạt theo Quyết định số 05-QĐ/UBKTHU ngày 23/10/2020 của Ủy ban kiểm tra huyện ủy Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên); Con ông: Phạm Văn K, sinh năm 1957; Con bà: Dương Thị L, sinh năm: 1960; có vợ nhưng đã ly hôn là Dương Phương N, sinh năm 1993 (đã chết và là bị hại trong vụ án); Có 01 con chung; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/10/2020 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên (có mặt).

* Những người bào chữa cho bị cáo:

1. Ông Phùng Đức T1, Luật sư thuộc Văn phòng luật sư TH - Đoàn luật sư tỉnh Thái Nguyên; (do cơ quan tiến hành tố tụng chỉ định, có mặt).

* Người bị hại:

1. Chị Dương Phương N, sinh năm 1993 (đã chết).

* Những người đại diện hợp pháp của người bị hại:

1. Ông Dương Văn Y, sinh năm 1973; trú tại: Xóm B2, xã ĐT, huyện PB, tỉnh Thái Nguyên (là bố đẻ chị N, có mặt).

2. Bà Dương Thị H, sinh năm 1974; trú tại: Xóm B2, xã ĐT, huyện PB, tỉnh Thái Nguyên (là mẹ đẻ chị N, có mặt).

Bà H ủy quyền cho ông Y tham gia tố tụng.

*Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại (do gia đình ông Y mời): Bà Hoàng Thị H1, là Luật sư thuộc văn phòng luật sư VB, Đoàn luật sư tỉnh Thái Nguyên (có mặt);

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Công ty cổ phần kinh doanh F88; Địa chỉ: phòng 206, tầng M, tòa nhà N01A, số 275 NT, phường TXT, quận TX, thành phố Hà Nội; Đại diện theo pháp luật là ông Phùng Anh T2, chức vụ Tổng giám đốc, ủy quyền cho ông Nguyễn Minh H2, sinh năm 1997; trú tại Tiểu khu 12, thị trấn LS, huyện LS, tỉnh Hòa Bình (theo giấy ủy quyền số 0412/2020/UQ-F88/TGĐ ngày 14/12/2020; có mặt).

* Những người làm chứng:

1.Ông Phạm Văn K, sinh năm 1957; Trú tại: Xóm TP, xã ĐT, huyện PB, tỉnh Thái Nguyên. (có mặt).

2. Bà Dương Thị L sinh năm 1960; Trú tại: Xóm TP, xã ĐT, huyện PB, tỉnh Thái Nguyên. (có mặt).

3. Anh Dương Minh T3, sinh năm 1986; Trú tại: Xóm TP, xã ĐT, huyện PB, tỉnh Thái Nguyên. (vắng mặt).

4. Chị Ngô Thị Tuyết N1, sinh năm 1987; trú tại: Tổ 3, phường TL, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên (có mặt).

5. Anh Lê Quốc Q, sinh năm 1995; Trú tại: Tổ 6, phường ĐT, thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 18 giờ, ngày 12/10/2020, Phạm Thanh T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE RSX, màu sơn đỏ, đen, BKS: 20G1-537.53 đi từ nhà đến cổng công ty TNHH HADANBI VINA thuộc xóm B1, xã ĐT, huyện PB, tỉnh Thái Nguyên là nơi chị Dương Phương N, sinh năm 1993, hộ khẩu thường trú tại Xóm B2, xã ĐT, huyện PB (N là vợ đã ly hôn của T) làm việc để chờ gặp chị N khi chị N hết giờ làm. Khi đi qua khu vực đường tròn xã ĐT, huyện PB, tỉnh Thái Nguyên, T nảy sinh ý định sẽ dùng dao để đe dọa chị N, tuy đã ly hôn, nhưng T luôn ghen tuông khi biết chị N có người yêu mới và nhiều lần hẹn gặp chị N để nói chuyện nhưng chị N không đồng ý, khi đi đến khu vực chợ CT xã NL, huyện PB, T đã mua 01 con dao nhọn, loại dao dài 30cm, cán gỗ dài 10cm; lưỡi kim loại dài 20cm, bản rộng nhất là 06cm, lưỡi sắc một bên, nhọn ở phần đầu mũi tại một quầy bán dao mà T không quen biết, dao được quấn trong túi nilon và buộc dây nilon màu đỏ ngang phía bên ngoài, sau đó T cất dao vào cốp xe máy và đi đến cổng Công ty TNHH HADANBI VINA đứng đợi chị N. Đến khoảng 18 giờ 45 phút, T thấy chị N cùng chị Ngô Thị Tuyết N1, sinh năm 1987, hộ khẩu thường trú tại tổ 03, phường TL, thành phố TN (bạn làm cùng công ty với chị N) từ nơi làm việc của Công ty TNHH HADANBI VINA đi ra phía nhà xe của công ty thì T gọi chị N lại để nói chuyện nhưng chị N từ chối gặp và tiếp tục cùng chị N1 đi ra lấy xe máy để về. Từ nhà xe của công ty, chị N và chị N1 (mỗi người điều khiển một xe mô tô) đi về hướng thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên đến đoạn đường vào khu Công nghiệp ĐT (Đoạn phía trước Công ty TNHH YOUNG DIECASTING VINA) T điều khiển xe mô tô đuổi theo từ phía sau vượt lên phía trước, dừng xe chặn đầu xe của chị N, T đi bộ đến gần chị N và yêu cầu chị N xuống xe nói chuyện. Chị N dừng xe, ngồi trên yên xe và nói: “Tao không có chuyện gì để nói với mày”, T tiếp tục hỏi “Thế mày có xuống nói chuyện với tao không?” chị N nói “Không” và vẫn ngồi trên yên xe mô tô. Lúc này, T nảy sinh ý định giết chị N rồi bản thân cũng tự sát chết nên T đi bộ quay lại vị trí xe máy của mình, lấy con dao nhọn từ trong cốp xe đi vòng ra phía sau của chị N, T bỏ túi bóng bọc ngoài con dao ra rồi đi đến phía sau lưng của chị N, khi cách chị N khoảng 50cm, T dùng tay phải cầm dao đâm mạnh 01 nhát trúng vào vùng lưng bên trái chị N rồi rút dao ra khỏi người chị N (sau nhát đâm này con dao bị cong một phần lưỡi). Chị N bị đâm ngã nằm ngửa xuống đường, xe mô tô cũng bị đổ đè lên phần chân của chị N, thấy vậy T quỳ đầu gối xuống nền đường, sát bên trái người chị N tiếp tục dùng dao cắt thêm 01 nhát vào cổ của chị N làm cho cổ chị N bị chảy nhiều máu, lúc này chị N1 đang đỗ xe đứng cách N khoảng 1m đã lao đến lôi khuỷu tay phải của T kéo ra nhưng T gạt tay làm tay chị N1 tuột tay khỏi tay của T, sau đó T tiếp tục dùng dao cứa cổ chị N 1 nhát nữa, thấy chị N nằm bất động, T dùng con dao nêu trên cắt 03 nhát vào cổ của mình để tự sát nhưng không chết mà chỉ bị chảy nhiều máu ở cổ. Ngay sau đó, T vứt con dao tại hiện trường, điều khiển xe mô tô của mình đi về nhà lấy một con dao nhọn của gia đình loại dao dài 32cm, có một lưỡi sắc, chuôi dao được làm bằng kim loại, lưỡi dao dài 22cm, bản rộng nhất là 7,5cm định tự sát nhưng được người nhà can ngăn rồi đưa T đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa YB và Bệnh viện C tỉnh Thái Nguyên.

Hậu quả: Chị Dương Phương N bị tử vong trên đường đưa đi cấp cứu; Phạm Thanh T bị thương, được điều trị tại Bệnh viện đến ngày 13/10/2020 ra viện.

Hồi 21 giờ 00 phút ngày 12/10/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Nguyên tổ chức khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, xác định: Hiện trường nơi xảy ra vụ án là tại đường vào khu Công nghiệp ĐT, phía trước Công ty TNHH YOUNG DIECASTING VINA, thuộc xóm B1, xã ĐT, huyện PB, tỉnh Thái Nguyên. Đường có chiều rộng 10,3m, phía bắc là đường hướng ra cổng chào khu Công nghiệp ĐT, phía nam là đường hướng ra thị xã PY, phía đông là công ty HADANBI VINA, phía tây là công ty TNHH YOUNG DIECASTING VINA.

Quá trình khám nghiệm hiện trường phát hiện, ghi nhận các dấu vết, đồ vật cụ thể như sau:

- Tại vị trí số (1), cách cổng công ty TNHH YOUNG DIECASTING VINA về phía Tây Bắc 32m, cách mép đường phía Tây (hướng đi PY) 2,6m, phát hiện thu giữ 01 túi nilon màu trắng, bên ngoài buộc dây nilon màu đỏ dài 24cm, vùng rộng nhất là 8cm, vùng hẹp nhất là 4cm, một đầu được bịt kín.

- Tại vị trí số (2), cách vị trí số (1) về phía Đông Bắc 1,18m, cách mép đường phía Tây (hướng đi PY) 1,6m, phát hiện thu giữ trên mặt đường nhựa 01 con dao dài 30cm, cán gỗ dài 10cm; lưỡi kim loại dài 20cm, bản rộng nhất là 06cm, sắc một bên, nhọn ở phần đầu mũi, (Lưỡi dao bị cong vênh về phía bên phải của dao).

- Tại vị trí số (3), cách vị trí số (2) về phía Bắc 1,1m, cách mép đường phía Tây (hướng đi PY) 2,8m, phát hiện dấu vết máu chảy đọng trên mặt đường, trên vũng máu có 01 chiếc khẩu trang màu trắng - xanh và 01 chiếc kính trắng, gọng đen đều có bám dính máu. Dấu vết máu chảy đọng trong diện (2,7x1,4)m, kế tiếp vết máu chảy đọng về phía Đông có rải rác dấu vết máu đọng nhỏ giọt đã khô trong diện (3,32 x 1,25)m.

- Tại vị trí số (4), cách vị trí số (1) về hướng Tây Bắc 2,5m, cách mép đường phía Tây (hướng đi PY): 3,9m, phát hiện 01 chiếc dép bên trái màu đen nhãn hiệu CHUNHVI.

- Tại vị trí số (5), phát hiện 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA LEAD màu đỏ, BKS: 20B2 - 360.80 dựng trên mặt đường. Đầu xe quay về phía Nam, đuôi xe quay về phía Bắc. Tại phần tay xách phía sau của xe phát hiện dấu vết máu dạng nhỏ giọt; tại ốp kim loại phía ngoài máy và ốp kim loại chắn bùn sau của xe có dấu vết máu dạng nhỏ giọt và tia bắn. Tính từ trục bánh sau của xe cách vị trí số (4) về phía Đông Bắc 1,5m, cách mép đường phía Tây (hướng đi PY): 4,0m. Chiếc xe mô tô trên là của chị Ngô Thị Tuyết N1, Cơ quan điều tra sau khi khám nghiệm đã thu giữ các mẫu máu, không thu giữ chiếc xe mô tô BKS: 20B-360.80.

- Tại vị trí số (6), phát hiện chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA LEAD màu vàng, nâu, BKS: 20G1 - 355.82 dựng trên mặt đường. Đầu xe quay về phía Nam, đuôi xe quay về phía Bắc. Trên yên xe rải rác có dấu vết máu dạng chùi quệt; tại khu vực công tắc đèn, còi của xe và mặt nạ phía trước của xe rải rác có dấu vết máu dạng tia bắn. Tính từ trục bánh sau của xe cách vị trí số (4) về phía Tây Bắc 2,1m, cách mép đường phía Tây (hướng đi PY): 5,62m. Trên yên xe có 01 mũ bảo hiểm màu hồng dạng mũ lưỡi trai có bám dính máu đọng, chùi quệt và tia bắn; phía dưới mũ, trên yên xe có 01 chiếc áo khoác màu đen, tại ống tay áo bên trái có dấu vết máu đã khô trong diện (5x3)cm; tại móc treo đồ giữa xe có treo 01 túi nilon màu trắng in chữ JUNO màu đỏ, bên trong có hộp bút màu, đồ chơi trẻ em và 01 tờ giấy dòng kẻ ngang có chữ viết tay với nội dung: “Kể từ h trở đi bố con tao không cần của M cái gì hết mua gì vào tao trả hết hoặc vứt đi ok M thích thì tn tao chiều thế đó”. Chiếc xe mô tô trên là của chị Dương Phương N, Cơ quan điều tra sau khi khám nghiệm đã thu giữ các mẫu máu, không thu giữ chiếc xe mô tô BKS: 20G1 - 355.82.

Hồi 22 giờ 20 phút ngày 12/10/2020, khám nghiệm hiện trường tại nhà ông Phạm Văn K, sinh năm 1957, thuộc xóm TP, xã ĐT, huyện PB xác định: Nhà ông Phạm Văn K có cổng kim loại 02 cánh mở vào trong, hướng Tây Nam. Ngay sát cánh cổng bên trái (hướng nhìn từ ngoài vào) về hướng Tây Bắc là phòng ở của Phạm Thanh T. Tiếp giáp với cổng nhà về phía Đông Bắc là khu vực sân có kích thước (14,2x7,9)m được lát gạch màu đỏ bằng phẳng.

- Vị trí số (1) ở góc sân phía Bắc phát hiện 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đỏ, đen, BKS: 20G1 - 537.53, đầu xe quay hướng Bắc, đuôi xe quay hướng Nam. Trên xe có dấu vết vật chất màu nâu đỏ dạng nhỏ giọt rải rác tại mặt đồng hồ, yên xe, lốc máy bên phải và lốc máy bên trái.

- Vị trí số (2), cách vị trí số (1) là 5,3m về hướng Tây Nam, cách mép sân phía Tây Bắc 1,35m, phát hiện dấu vết vật chất màu nâu đỏ đọng trên nền sân.

- Vị trí số (3), cách vị trí số (1) là 3,8m về phía Đông Nam, trên bậc thềm thứ nhất (tính từ nền sân) dẫn vào phòng khách phát hiện 01 con dao đầu nhọn, một lưỡi sắc, dài 32cm, lưỡi dao dài 22cm, lưỡi dao có bản rộng nhất là 7,5cm, chuôi dao được làm bằng kim loại. Trên dao có bám dính vật chất màu nâu đỏ. Cạnh con dao có phát hiện một đôi dép màu trắng đen, trên dép có chữ “Adidas”, có bám dính vật chất màu nâu đỏ.

- Vị trí số (4), cách vị trí số (1) là 3,8m về phía Tây, cách mép sân phía Tây Bắc 2,9m, phát hiện 01 quần đùi màu đen, 01 quần ngố bò màu đen, 01 áo phông cộc tay màu xanh xám đều bị ướt. Trên quần ngố bò màu đen và áo phông cộc tay màu xanh xám bám dính vật chất màu nâu đỏ.

- Vị trí số (5), tiếp giáp vị trí số (1) về phía Đông Bắc: Là vị trí nhà bếp, kích thước KT: (6,3x4,25)m, cửa bếp bằng gỗ có hai cánh mở ra hướng Tây Nam. Nền bếp được lát gạch màu đỏ bằng phẳng. Trên nền bếp rải rác dấu vết vật chất màu nâu đỏ dạng nhỏ giọt.

Hồi 20 giờ 10 phút ngày 12/10/2020, khám nghiệm tử thi Dương Phương N xác định: Tại vùng lưng áo dài tay kẻ carô dưới đường chỉ may cổ áo 11cm, ngang đường may nách áo phải 20cm có 01 vết rách vải dài 5cm; Tại vùng lưng áo dài tay màu trắng dưới đường may cổ áo 9,5cm, sát đường may giữa lưng áo có 01 vết rách vải dài 4,7cm;

Da, niêm mạc nhợt nhạt, vùng cổ trước và cổ bên trái có 02 vết rách da cơ, vết phía trên có kích thước (14,5 x 4)cm bờ mép sắc gọn, mỗi đầu của vết rách có 03 góc, chiều hướng từ trái qua phải, từ trên xuống dưới (vết số 1). Vết phía dưới cách vết số (1) là 0,5cm có kích thước (8x2)cm, bờ mép sắc gọn, chiều hướng từ trái qua phải, từ trên xuống dưới (vết số 2).

Vùng lưng trái cách dưới đầu trong xương bả vai trái 9cm, cách ngang đốt sống ngực số (3) 4cm, có vết rách, thủng da cơ có kích thước (5x1.5)cm, bờ mép sắc gọn, chiều hướng từ sau ra trước, góc bên trái nhọn, góc bên phải tù (vết số 3).

Mổ tử thi Dương Phương N xác định: Vết số (1) làm đứt bó mạch cảnh trái; vết số (2) làm đứt khí quản, vết số (3) thấu vào trong khoang ngực trái, đứt xương bả vai trái, qua khoang liên sườn số 3, 4 làm rách phân thùy đỉnh của thùy dưới phổi trái có kích thước là (6x1)cm, rách tĩnh mạch phổi, rách tĩnh mạch chủ, rách bao tim, khoang tim có nhiều máu đông lẫn máu không đông. Khoang ngực trái có nhiều máu không đông, dạ dày có nhiều thức ăn đang tiêu hóa, tử cung không có thai nhi.

Kết quả xem xét dấu vết trên thân thể Phạm Thanh T xác định: Vùng cổ bên phải có vết thương dài 6cm, hướng chéo, đã được khâu 5 mũi chỉ; Vùng cổ bên trái có 02 vết thương, vết thương phía trên hướng hơi chéo, dài 7cm, được khâu 7 mũi chỉ, vết bên dưới nằm ngang, dài 9cm, được khâu 7 mũi chỉ.

Ngoài ra, phát hiện các vết xước da tại bàn tay phải, đầu gối phải và nhiều dấu vết màu nâu đỏ nghi là máu trên thân thể của Phạm Thanh T.

Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi Dương Phương N số 1363/KL-KTHS ngày 04/11/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, kết luận: Vết thương vùng cổ có bờ mép sắc gọn, đứt khí quản, đứt bó mạch cảnh trái; Vết thương vùng lưng trái có bờ mép sắc gọn, sâu thấu vào bên trong khoang ngực, rách thùy dưới phổi trái, rách tĩnh mạch phổi, rách tĩnh mạch chủ, rách bao tim, khoang màng tim có nhiều máu, khoang ngực trái có nhiều máu không đông.

Nguyên nhân chết: Dương Phương N, sinh năm 1993, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xã ĐT, huyện PB, tỉnh Thái Nguyên bị vật sắc nhọn tác động vào vùng cổ và lưng gây đứt khí quản, đứt bó mạch cảnh trái; rách thùy dưới phổi trái, rách tĩnh mạch phổi, rách tĩnh mạch chủ, rách bao tim, gây mất máu cấp, suy tuần hoàn cấp, suy hô hấp cấp dẫn đến chết.

- Tại Kết luận giám định số 7250/C09-TT3 ngày 27/11/2020 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an, kết luận:

Trên mẫu ký hiệu A2 (mẫu máu trên con dao nhọn thu tại hiện trường) có dính máu lẫn của tử thi Dương Phương N và Phạm Thanh T.

Trên mẫu ký hiệu HTT4B (mẫu máu trên quần ngố bò) có dính máu người, không phân tích được kiểu gen từ dấu vết máu người này do chất lượng dấu vết kém.

Dấu vết ký hiệu A3a (mẫu máu thu tại hiện trường) và A6a (mẫu máu thu trên xe mô tô BKS 20G1- 355.82) là máu của tử thi Dương Phương N.

Dấu vết ký hiệu MGT (mẫu máu thu ở đầu gối trái Phạm Thanh T) là máu lẫn của tử thi Dương Phương N và Phạm Thanh T.

- Tại bản kết luận giám định hóa pháp số 447/460/610-611/20/ĐC ngày 27/10/2020 của Viện pháp y quốc gia, Bộ Y tế kết luận: Trong mẫu máu và nước tiểu vụ Phạm Thanh T sinh năm 1987 do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Nguyên gửi tới giám định ngày 15/10/2020 không tìm thấy cồn và các chất ma túy.

Về trá ch nhiê ̣m dân sự : Quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp cho bị hại là ông Dương Văn Y ( bố đẻ chị N) có đơn yêu cầu bị cáo bồi thường tổng số tiền là 514.500.000đ. Đến nay, Phạm Thanh T và gia đình bị cáo T chưa thực hiện việc bồi thường cho gia đình bị hại.

Tại cơ quan điều tra , Phạm Thanh T đa khai nhận toã

̀n bô ̣ hành vi pha ̣m tô ̣i của minh , phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám

̀ nghiệm tử thi, kết luận giám định , vâ ̣t chứ ng thu giữ , lời khai của người làm chứng và các chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vu ̣ án.

Tại bản cáo trạng số 02/CT- VKS - P2 ngày 14/01/2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên truy tố Phạm Thanh T về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự.

Trong phần trình bày lời luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên sau khi trình bày tóm tắt nội dung vụ án; đánh giá tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội, xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã kết luận giữ nguyên cáo trạng truy tố về tội danh đối với bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Phạm Thanh T phạm tội “ Giết người”; áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm e khoản 1 Điều 52; Điều 39 Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo mức án tù chung thân;

Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 586, 591, Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự; Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và đại diện hợp pháp của người bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Bị cáo Phạm Thanh T có trách nhiệm bồi thường cho gia đình người bị hại, đại diện là ông Dương Văn Y tổng số tiền là 514. 500.000đ (Năm trăm mười bốn triệu, năm trăm ngàn đồng)

- Bị cáo bồi hoàn cho công ty cổ phần kinh doanh F88 số tiền 13.866.000đ do bị cáo đã cầm cố xe mô tô của bị cáo để vay công ty vào ngày 13/7/2020.

Về vật chứng vụ án: tiếp tục tạm giữ 1 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đỏ đen, BKS 20G1 -537.53, xe đã qua sử dụng, xước xát nhiều chỗ, để đảm bảo thi hành án cho bị cáo; Tịch thu tiêu hủy vật chứng không còn giá trị sử dụng theo Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Luật sư Phùng Đức T1 bào chữa cho bị cáo nhất trí với tội danh đã truy tố đối với bị cáo. Tuy nhiên, Luật sư cho rằng bị cáo là người có nhân thân tốt, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng 2 Huân chương. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét toàn diện vụ án, căn cứ nhân thân người phạm tội; áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo mức án tù có thời hạn. Về phần bồi thường đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Luật sư Hoàng Thị H1 bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại đưa ra các lập luận cho rằng: Hành vi của bị cáo có tính chất côn đồ hung hãn ở mức cao nên cần loại trừ vĩnh viễn ra khỏi đời sống xã hội; đề nghị xử phạt bị cáo mức án tử hình mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. Về phần bồi thường đề nghị công nhận sự thỏa thuận: bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho gia đình bị hại tổng số tiền là 514.500.000đ.

Bị cáo không tranh luận gì, nhất trí với lời bào chữa của vị luật sư;

Trong lời nói sau cùng, bị cáo ân hận về hành vi của mình và xin mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[ 1] Về hành vi, quyết định tố tụng và các tài liệu chứng cứ được thu thập của Điều tra viên cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Thái Nguyên, của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên; các tài liệu chứng cứ của người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại; của bị can, bị cáo cung cấp trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, đúng pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay, có 2 người làm chứng vắng mặt. Hội đồng xét xử sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, các vị luật sư và những người tham gia tố tụng khác đã thảo luận, căn cứ Điều 292 và Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, quyết định tiếp tục xét xử vụ án.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với: Biên bản khám nghiệm hiện trường, lời khai của người làm chứng, bản kết luận giám định; vật chứng đã thu giữ và hoàn toàn phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 18 giờ 45 phút, ngày 12/10/2020, tại khu vực cổng công ty TNHH HADANBI VINA thuộc xóm B1, xã ĐT, huyện PB, tỉnh Thái Nguyên, Phạm Thanh T đã dùng một con dao nhọn dài 30cm, loại dao sắc một bên, phần lưỡi dao bằng kim loài dài 20cm, bản rộng nhất lưỡi dao 6cm, có mũi nhọn, phần chuôi dao bằng gỗ dài 10cm đâm 01 nhát trúng lưng bên trái của chị N khi chị N đang ngồi trên yên xe mô tô, làm chị N bị ngã nằm ngửa xuống nền đường, T tiếp tục dùng dao nhọn cắt 02 nhát liên tiếp vào cổ chị N làm cho chị N bị đứt khí quản, đứt bó mạch cảnh trái; rách thùy dưới phổi trái, rách tĩnh mạch phổi, rách tĩnh mạch chủ, rách bao tim, gây mất máu cấp, suy tuần hoàn cấp, suy hô hấp cấp dẫn đến chết. Sau đó T dùng con dao nêu trên tự cắt 03 nhát vào cổ của mình làm T bị thương, được đưa đi cấp cứu đến ngày 13/10/2020 thì ra viện.

Với hành vi như đã nêu trên, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Phạm Thanh T về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Nội dung điều luật như sau:

“ Điều 123. Tội giết người

1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a,…

n) Có tính chất côn đồ”

Xét tính chất vụ án là đặc biệt nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Trong vụ án này, giữa bị cáo và chị N trước đây là vợ chồng đã có 1 con chung. Mặc dù đã ly hôn nhưng bị cáo vẫn có thái độ ghen tuông với chị N nên đã có hành vi sử dụng hung khí là con dao sắc nhọn dài 30cm, phần lưỡi dao rộng nhất là 6cm đâm 01 nhát trúng lưng bên trái của chị N khi chị N đang ngồi trên yên xe mô tô, làm chị N bị ngã nằm ngửa xuống nền đường, T tiếp tục dùng dao nhọn cắt 02 nhát liên tiếp vào cổ chị N làm cho chị N bị đứt khí quản, đứt bó mạch cảnh trái; rách thùy dưới phổi trái, rách tĩnh mạch phổi, rách tĩnh mạch chủ, rách bao tim, gây mất máu cấp, suy tuần hoàn cấp, suy hô hấp cấp dẫn đến chết. Hành vi đó thể hiện tính côn đồ hung hãn của bị cáo. Hành vi đó cần phải được xử lý nghiêm minh bằng pháp luật hình sự, cần buộc bị cáo phải chịu hình phạt tù không thời hạn để có đủ thời gian cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có bố đẻ được nhà nước tặng thưởng 2 Huân chương nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là cố tình thực hiện tội phạm đến cùng theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự

Về hình phạt: Qua xem xét, đánh giá nêu trên khi lượng hình cần xử phạt bị cáo mức án tù chung thân theo như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Hành vi của bị cáo đã tước đoạt tính mạng của chị N trái pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, đại diện hợp pháp của người bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường các khoản tiền sau:

Tiền thuê xe đi cấp cứu và tiền mai táng phí là 100.000.000đ; Tiền tổn thất về tinh thần là 149.000.000đ;Tiền cấp dưỡng nuôi cháu K1 là 265.500.000đ; Tổng cộng: 514.500.000đ. Bị cáo nhất trí bồi thường toàn bộ theo yêu cầu của gia đình bị hại. Xét thấy sự thỏa thuận nêu trên là phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử công nhận.

Trước khi xảy ra vụ án, ngày 13/7/2020, T đã cầm cố Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô HONDA WAVE RSX, BKS: 20G1-537.53 là xe của Phạm Thanh T để vay của Chi nhánh Công ty cổ phần kinh doanh F88 tại Thái Nguyên số tiền 11.959.968 đồng, đến ngày 14/12/2020, T đã trả số tiền 3.339.000 đồng còn nợ Chi nhánh Công ty cổ phần kinh doanh F88 tại Thái Nguyên 13.866.000 đồng (gồm cả tiền lãi). Tại phiên tòa hôm nay, đại diện của công ty yêu cầu bị cáo Phạm Thanh T hoàn trả số tiền 13.866.000đ cho công ty F88. Bị cáo nhất trí nên cần công nhận sự thỏa thuận đó trên cơ sở xử lý tài sản đảm bảo theo quy định của pháp luật.

Về vật chứng: áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự:

Giao cho Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên tiếp tục tạm giữ 1 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đỏ đen, BKS 20G1 -537.53, số máy: JA 52E0110222, số khung: 3857LY014292, xe đã qua sử dụng, xước xát nhiều chỗ, không kiểm tra máy bên trong để xử lý tài sản cầm cố cho Công ty cổ phần kinh doanh F88 ( Địa chỉ: phòng 206, tầng M, tòa nhà N01A, số 275 NT, phường TXT, quận TX, thành phố Hà Nội). Phần giá trị còn lại (nếu còn) cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.

- Các vật chứng đã thu giữ trong quá trình giải quyết vụ án xét thấy không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự theo quy định Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận lời đề nghị nêu trên.

Xét lời đề nghị của vị luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị xử phạt bị cáo mức án tù có thời hạn là chưa đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Xét lời đề nghị của vị luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại đề nghị xử phạt bị cáo mức án tử hình là quá nghiêm khắc, bởi lẽ: bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự. Qua các nội dung đã phân tích nêu trên, cần xử phạt bị cáo mức án tù chung thân là phù hợp.

Trong vụ án này, trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Nguyên tiến hành kiểm tra xe mô tô nhãn hiệu HONDA LEAD màu vàng nâu, BKS 20G1 - 355.82 của chị Dương Phương N phát hiện trong cốp xe có một “Đơn trình báo” đề ngày 05/7/2020, ghi thông tin người viết đơn là Dương Phương N, sinh năm 1993, trú tại Xóm B2, xã ĐT, huyện PB, tỉnh Thái Nguyên, kính gửi Ủy ban nhân dân xã ĐT, nội dung trình báo ngày 05/10/2020, tại nhà ông Dương Văn Y ở Xóm B2, xã ĐT, huyện PB, tỉnh Thái Nguyên, Phạm Thanh T đã vào nhà tự ý lấy của chị N chiếc điện thoại Oppo F1S số thuê bao: 0836607363, cầm đi từ lúc 9 giờ 30 phút đến khoảng 11 giờ 50 phút cùng ngày, sau đó giật con chung là cháu Phạm Dương K1 mang con đi khi chưa được sự đồng ý của chị N và cháu bé. Cơ quan điều tra đã điều tra, xác minh xác định: Chị Dương Phương N sau khi viết đơn trình báo nêu trên không gửi đến cơ quan, tổ chức nào. Việc T lấy điện thoại của chị N mục đích để kiểm tra các nội dung trong điện thoại, không nhằm chiếm đoạt, sau đó đã trả lại chiếc điện thoại cho chị N. Đối với cháu K1 là con của T, sau khi đưa cháu K1 đi chơi T đã đưa cháu K1 về nhà N, nên Cơ quan điều tra không xem xét giải quyết đối với Phạm Thanh T về hành vi như đơn trình báo là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

Tuyên bố: bị cáo Phạm Thanh T phạm tội "Giết người".

1.Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm e khoản 1 Điều 52; Điều 39; Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo Phạm Thanh T tù chung thân. Thời hạn tù tính từ ngày 13/10/2020.

Áp dụng khoản 1 và khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự, quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 586, 591, Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự. Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và đại diện hợp pháp của người bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Bị cáo Phạm Thanh T có trách nhiệm bồi thường cho gia đình người bị hại, đại diện là ông Dương Văn Y tổng số tiền là 514. 500.000đ (Năm trăm mười bốn triệu, năm trăm ngàn đồng)

- Bị cáo có trách nhiệm bồi hoàn cho công ty cổ phần kinh doanh F88 số tiền 13.866.000đ.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án chậm thi hành thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự xử lý như sau:

*Giao cho Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên tiếp tục tạm giữ 1 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đỏ đen, BKS 20G1 -537.53, số máy: JA 52E0110222, số khung: 3857LY014292, xe đã qua sử dụng, xước xát nhiều chỗ, không kiểm tra máy bên trong để xử lý tài sản cầm cố để bồi hoàn cho Công ty cổ phần kinh doanh F88 ( Địa chỉ: phòng 206, tầng M, tòa nhà N01A, số 275 NT, phường TXT, quận TX, thành phố Hà Nội). Phần giá trị còn lại (nếu còn) cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.

* Tịch thu tiêu hủy gồm:

- 01 (Một) túi nilon màu trắng bên ngoài buộc dây nilon màu đỏ thu giữ tại vị trí số 1 trên sơ đồ hiện trường được niêm phong vào túi niêm phong mã số PS1A 070478, ký hiệu A1.

- 01(Một) Chiếc khẩu trang màu trắng- xanh thu giữ tại vị trí số 3 trên sơ đồ hiện trường được niêm phong trong phong bì niêm phong ký hiệu A3b;

- 01(Một) Chiếc kính trắng gọng đen thu giữ tại vị trí số 3 trên sơ đồ hiện trường ký hiệu A3c;

- 01(Một) Chiếc dép bên trái, màu đen thu giữ tại vị trí số 4 trên sơ đồ hiện trường được niêm phong vào túi niêm phong mã số PS1A 070483 ký hiệu A4a;

- 01(Một) mẫu máu thu giữ tại vị trí số 4 trên sơ đồ hiện trường được niêm phong trong phong bì niêm phong ký hiệu A4b;

- 01(Một) dấu vết máu dạng nhỏ giọt, tia bắn thu giữ trên xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu đỏ, BKS 20B2 – 360.80 tại vị trí số 5 trên sơ đồ hiện trường được niêm phong vào bì niêm phong ký hiệu A5;

- 01 Chiếc mũ bảo hiểm, màu hồng thu giữ trên yên xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu vàng nâu, BKS 20G1 – 355.82 tại vị trí số 6 trên sơ đồ hiện trường được niêm phong vào hộp niêm phong ký hiệu A6b;

- 01 Chiếc áo khoác màu đen, thu giữ trên yên xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu vàng nâu, BKS 20G1 – 355.82 tại vị trí số 6 trên sơ đồ hiện trường được niêm phong vào túi niêm phong mã số PS1A 070482, ký hiệu A6c;

- 01(Một) mẫu vật chất màu nâu nghi máu thu giữ trên xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đỏ - đen, BKS 20G1 – 537.53 tại vị trí số 1 trên sơ đồ hiện trường được niêm phong vào bì thư niêm phong ký hiệu HTT1;

- 01(Một) mẫu vật chất màu nâu nghi máu thu tại vị trí số 2 trên sơ đồ hiện trường được niêm phong vào bì thư niêm phong ký hiệu HTT2;

- 01(Một) Dao nhọn dài 32cm, loại dao có một lưỡi sắc, phần lưỡi dao dài 22cm, bản rộng nhất của lưỡi dao 7,5cm, trên dao bám dính vật chất màu nâu đỏ, thu tại vị trí số 3 trên sơ đồ hiện trường được niêm phong vào túi niêm phong, ký hiệu HTT3A;

- 01 (Một) Đôi dép nhãn hiệu ADIDAS, thu tại vị trí số 3 trên sơ đồ hiện trường được niêm phong vào hộp niêm phong, ký hiệu HTT3B;

- 01 (Một) quần đùi màu đen thu tại vị trí số 4 trên sơ đồ hiện trường được niêm phong vào hộp niêm phong, ký hiệu HTT4A;

- 01 áo phông cộc tay màu xanh xám, thu tại vị trí số 4 trên sơ đồ hiện trường được niêm phong vào hộp niêm phong ký hiệu HTT4C ;

- 01(Một) Dấu vết vật chất màu nâu thu tại vị trí số 5 trên sơ đồ hiện trường được niêm phong vào bì thư ký hiệu HTT5;

- 01(Một) Dấu vết vật chất màu nâu đỏ nghi máu thu giữ tại mặt sau cẳng chân trái của Phạm Thanh T, được niêm phong theo quy định ký hiệu: “M cẳng chân T”;

- 01(Một) Dấu vết vật chất màu nâu đỏ nghi máu thu giữ tại lòng bàn tay phải của Phạm Thanh T, được niêm phong theo quy định ký hiệu: “MTP”;

- 01(Một) Dấu vết vật chất màu nâu đỏ nghi máu thu giữ tại lòng bàn tay trái của Phạm Thanh T, được niêm phong theo quy định ký hiệu: “MTT”;

- 01(Một) Dấu vết vật chất màu nâu đỏ nghi máu thu giữ tại bàn chân phải của Phạm Thanh T, được niêm phong theo quy định ký hiệu: “MCP”;

- 01(Một) Dấu vết vật chất màu nâu đỏ nghi máu thu giữ tại bàn chân trái của Phạm Thanh T, được niêm phong theo quy định ký hiệu: “MCT”;

- 01 (một) áo sơ mi dài tay, loại áo nền trắng, kẻ ca rô nhỏ màu đen, được niêm phong theo quy định ký hiệu “Áo TT N 1”.

- 01 (một) áo sơ mi dài tay màu trắng, được niêm phong theo quy định ký hiệu “Áo TT N 2”.

- 01 (một) hộp niêm phong có đóng dấu của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an tại các mép dán, có chữ ký niêm phong của Lê Thị Thu Hiền – giám định viên thuộc Viện khoa học hình sự - Bộ Công an và Nguyễn Hải Quân – Điều tra viên thuộc Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thái Nguyên. Hộp niêm phong ký hiệu: “7250/C09-TT3”. Bên trong có: 01 con dao nhọn, loại dao một lưỡi sắc, chuôi bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại đã bị cong vênh; 01 quần ngố bò tối màu, trên quần có dấu vết màu nâu nhạt đã khô.

(Các vật chứng trên hiện đang ở kho của Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên theo biên bản về việc giao nhận vật chứng số 22 ngày 14/01/2021).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Phạm Thanh T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 25.134.640đ án phí dân sự sơ thẩm sung quỹ nhà nước;

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo; Đại diện hợp pháp của người bị hại; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ