- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Lê Chí T phạm tội: «Cố ý làm hư hỏng tài sản» - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Chí T phạm tội: «Cố ý làm hư hỏng tài sản».
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2021/HS-ST Ngày: 26/01/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Liên.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đặng Thị Nữa.
Bà Vũ Ngọc Lan.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thư Nhàn - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Kim Chi - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 126/2020/TLST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06.1/2021/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2021 đối với bị cáo:
Lê Chí T; Sinh ngày: 05/01/1985; Tại: Tỉnh Đồng Nai; Thường trú: 165/24A đường NVL, Phường J, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Làm công; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Văn Đ và bà: Trần Thị S; Có vợ: Không và con: Không; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giữ từ ngày 25/7/2020 đến ngày 26/7/2020 được trả tự do.
(có mặt)
- Bị hại:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần KTVN (tên viết tắt: Ngân hàng TCB); Địa chỉ: 191 phố BT, phường LĐH, quận HBT, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hồ Hùng A; Sinh năm: 1970 - Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Văn H; Sinh năm: 1991 - Trưởng nhóm giám sát an ninh bảo vệ Miền Nam; Thường trú: Xã BĐ, huyện TL, Thành phố Hải Phòng; Tạm trú: 22 đường số 5, khu dân cư BC, phường TĐ, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
(vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Bà Huỳnh Thanh T1; Sinh năm: 1983; Trú tại: 161 đường LNĐ, Phường G, Quận K, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 165/24A đường NVL, Phường J, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
(vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 25/7/2020, sau khi uống bia cùng một vài người bạn, Lê Chí T điều khiển xe gắn máy biển số 59M1-718.18 đến máy ATM (máy rút tiền tự động) của Ngân hàng Thương mại Cổ phần KTVN - Chi nhánh CL - Phòng giao dịch BP (gọi tắt là Ngân hàng TCB) đặt tại địa chỉ 137-139 đường CL, Khu Dân cư BP, Phường K, Quận F để rút tiền. Tại đây, T đưa thẻ ATM do Ngân hàng Vietcombank phát hành vào máy ATM của Ngân hàng TCB, nhưng không rút được tiền do máy không nhận lệnh thao tác trên màn hình cảm ứng, nên T bấm hủy lệnh bằng cách nhấn phím «Cancel» để lấy thẻ ra, tuy nhiên máy không trả thẻ. Trường lập lại thao tác trên nhiều lần nhưng vẫn không nhận được thẻ. Tức giận, nên T ra gốc cây (phía trước nơi đặt máy ATM) nhặt viên gạch (loại gạch bông lót đường đã bị bể, kích thước 14,5x16,5cm, dày 2,3cm) ném vào màn hình cảm ứng của máy ATM làm màn hình bị vỡ. Sau đó, T dùng tay gõ liên tiếp vào khe nhận thẻ của máy ATM để lấy lại thẻ, vẫn không được. Lúc này (khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày), nhận được tin báo của quần chúng xung quanh, Công an Phường 11, Quận 6 đến lập biên bản đưa T về trụ sở Công an phường làm việc.
Tại Công an Phường 11, Quận 6 cũng như tại Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Lê Chí T đều khai nhận nội dung như đã nêu trên.
Kết quả kiểm tra nồng độ cồn của Đội cảnh sát giao thông Công an Quận 6 vào lúc 21 giờ 27 phút ngày 25/7/2020 đã xác định nồng độ cồn của Lê Chí T là 0,729mg/L khí thở.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 133/KL-HĐĐGTS ngày 21 tháng 9 năm 2020, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 6 đã kết luận trị giá của máy ATM tại thời điểm ngày 25/7/2020, cụ thể:
- 01 màn hình 15’’ của máy ATM Wincor Diebold CS280, số seri máy: 56HG806351, loại máy DNCS 280-FL.MTS 10000501200329 là: 18.385.500 đồng.
- 01 kính cường lực màn hình 15’’ của máy ATM Wincor Diebold CS280, số seri máy: 56HG806351, loại máy DNCS 280-FL.MTS 10000501200329 là: 18.509.400 đồng.
- 01 mặt nạ màn hình của máy ATM Wincor Diebold CS280, số seri máy: 56HG806351, loại máy DNCS 280-FL.MTS 10000501200329 là: 24.990.000 đồng.
Tại Cáo trạng số: 03/CT-VKS-Q6 ngày 31 tháng 12 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lê Chí T về tội «Cố ý làm hư hỏng tài sản» theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 178 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa: Bị cáo Lê Chí T khai nhận chính bị cáo đã thực hiện hành vi dùng nửa viên gạch (loại gạch dùng để lót đường đã bị bể, kích thước 16,5x14,5cm, dày 2,3cm) ném làm vỡ màn hình 01 máy ATM của Ngân hàng TCB đặt tại địa chỉ 137-139 đường CL, Phường K, Quận F vào tối ngày 25/7/2020 như nội dung bản cáo trạng nêu. Bị cáo khai do nhất thời nóng giận (một phần do không rút được tiền mà lại bị máy ATM nuốt thẻ, một phần do trước đó bị cáo có sử dụng bia rượu làm mất lý trí), nên bị cáo mới dùng viên gạch ném vào máy ATM với mục đích chỉ là để lấy lại thẻ. Sau sự việc xảy ra, bị cáo đã thỏa thuận bồi thường cho Ngân hàng TCB tổng cộng 97.248.000 đồng, phía Ngân hàng cũng đã làm đơn bãi nại cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Chí T như bản cáo trạng và sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Phạt bị cáo Lê Chí T từ 02 năm đến 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, với thời gian thử thách từ 04 năm đến 05 năm về tội «Cố ý làm hư hỏng tài sản» theo điểm b khoản 2 Điều 178; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Không phạt tiền đối với bị cáo, do bị cáo không có khả năng thi hành.
Về bồi thường thiệt hại: Đã thỏa thuận giải quyết xong, nên không đề nghị giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy: 01 viên gạch bông bị bể, bề dày 2,3cm (loại gạch lót đường), kích thước 17,5x20cm; 01 viên gạch bông bị bể, bề dày 2,3cm (loại gạch lót đường), kích thước 16,5x14,5cm và một số mãnh vỡ thủy tinh trong suốt.
Còn chiếc xe gắn máy biển số 59M1-718.18, số khung F24099Y-108835, số máy JF24E-0132389 (loại xe hai bánh từ 50-175cm3, nhãn hiệu Honda, số loại Lead, sơn màu Đỏ, dung tích 108), Cơ quan điều tra Công an Quận 6 đã xử lý trả lại Bà Huỳnh Thanh T1, nên không đề nghị xử lý.
Lời nói sau cùng, bị cáo Lê Chí T nhận thức được hành vi của bị cáo là sai, là vi phạm pháp luật nên không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình, có cơ hội làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối chiếu lời khai của bị cáo Lê Chí T tại phiên tòa với Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 25/7/2020 (kèm Bản ảnh hiện trường); Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu; lời khai của đại diện Ngân hàng Thương mại Cổ phần KTVN và của người làm chứng tại Cơ quan điều tra cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Chí T đã phạm tội «Cố ý làm hư hỏng tài sản». Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 178 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bị cáo Lê Chí T đã dùng nửa viên gạch (loại gạch bông dùng để lót đường, kích thước 16,5x14,5cm, dày 2,3cm) ném vào màn hình máy ATM (loại máy Wincor Diebold CS280, số seri máy: 56HG806351, loại máy DNCS 280-FL.MTS 10000501200329) của Ngân hàng Thương mại Cổ phần KTVN đặt tại địa chỉ 137-139 đường CL, Phường K, Quận F vào tối ngày 25/7/2020, làm vỡ 01 màn hình 15’’ trị giá 18.385.500 đồng, 01 kính cường lực màn hình 15’’ trị giá 18.509.400 đồng, 01 mặt nạ màn hình trị giá 24.990.000 đồng (tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 61.884.900 đồng). Hành vi này của bị cáo không những làm giảm đáng kể giá trị sử dụng của tài sản mà còn trực tiếp xâm phạm đến tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự ở địa phương. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 truy tố bị cáo về tội «Cố ý làm hư hỏng tài sản» thuộc trường hợp «Gây thiệt hại cho tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng» theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 178 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Bị cáo Lê Chí T là người đã trưởng thành, bị cáo hoàn toàn có đủ khả năng nhận thức rõ được hành vi cũng như hậu quả do hành vi của bị cáo gây ra, nhưng do ý thức xem thường pháp luật, nên bị cáo đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội nêu trên, mặc cho hậu quả xảy ra như thế nào, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Lê Chí T là nghiêm trọng, do đó Hội đồng xét xử thấy cần phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và để phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại nhằm khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và được bị hại bãi nại, đồng thời đề nghị không truy cứu trách nhiệm hình sự; tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu (chưa có tiền án, tiền sự), nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt tương ứng khi lượng hình cho bị cáo theo quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Và xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng; ngoài lần phạm tội này bị cáo không có vi phạm pháp luật nào khác; hiện có việc làm ổn định; có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; có người bảo lãnh và theo kết quả xác minh của Công an Phường 10, Quận 6 thì từ khi được tại ngoại đến nay, bị cáo đã không gây nguy hại, tôn trọng các quy tắc xã hội, chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân nơi cư trú, không vi phạm các điều mà pháp luật cấm. Ngoài ra, qua xem xét, đánh giá, Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo mình để trở thành người công dân tốt, nên thấy không cần bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo được hưởng án treo với một thời gian thử thách nhất định theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 2 Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 vẫn đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung, đồng thời thể hiện được sự khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo được sửa chữa những sai lầm đã phạm phải.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 178 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, thì bị cáo Lê Chí T còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập, điều kiện kinh tế còn khó khăn. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Việc bồi thường thiệt hại: Sau sự việc xảy ra, bị cáo Lê Chí T đã thỏa thuận bồi thường cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần KTVN 97.248.000 đồng (mặc dù tổng trị giá tài sản mà bị cáo gây thiệt hại cho phía Ngân hàng theo định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 6 là 61.884.900 đồng). Xét đây là sự tự nguyện bồi thường của bị cáo và tại phiên tòa, bị cáo không yêu cầu giải quyết. Còn phía Ngân hàng Thương mại Cổ phần KTVN tại phiên tòa vắng mặt, nhưng tại Cơ quan điều tra, người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng xác nhận đã nhận đủ tiền, không yêu cầu bồi thường gì thêm và đồng ý bãi nại cho bị cáo (Đơn xin không truy cứu trách nhiệm hình sự ngày 20/8/2020
- BL60), do đó Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Việc xử lý vật chứng: 01 viên gạch bông bị bể, bề dày 2,3cm (loại gạch lót đường), kích thước 17,5x20cm; 01 viên gạch bông bị bể, bề dày 2,3cm (loại gạch lót đường), kích thước 16,5x14,5cm và một số mãnh vỡ thủy tinh trong suốt, là vật không có giá trị hoặc không sử dụng được, nên Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
(theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 136/PNK ngày 29 tháng 7 năm 2020 và Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 04 tháng 01 năm 2021 của Công an Quận 6; Quyết định chuyển vật chứng số: 03/QĐ-VKS-Q6 ngày 31 tháng 12 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 6)
Đối với chiếc xe gắn máy biển số 59M1-718.18, số khung F24099Y-108835, số máy JF24E-0132389 (loại xe hai bánh từ 50-175cm3, nhãn hiệu Honda, số loại Lead, sơn màu Đỏ, dung tích 108) thu giữ của bị cáo Lê Chí T, Cơ quan điều tra Công an Quận 6 xác định là tài sản hợp pháp của Bà Huỳnh Thanh T1, nên đã xử lý trả lại cho Bà T1 (theo Biên bản về việc trả lại tài sản ngày 09/10/2020 - BL125), do đó Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
Bị cáo Lê Chí T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Lê Chí T phạm tội: «Cố ý làm hư hỏng tài sản».
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 178; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 và Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Lê Chí T 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Lê Chí T cho Ủy ban nhân dân Phường J, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Lê Chí T có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát và giáo dục đối với bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) viên gạch bông bị bể, bề dày 2,3cm (loại gạch lót đường), kích thước 17,5x20cm; 01 (một) viên gạch bông bị bể, bề dày 2,3cm (loại gạch lót đường), kích thước 16,5x14,5cm và một số mãnh vỡ thủy tinh trong suốt.
- Căn cứ Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Lê Chí T phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bị cáo Lê Chí T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
- Đã giải thích chế định án treo đối với bị cáo Lê Chí T.
| Nơi nhận: - VKSND Quận 6; - Công an Quận 6; - TAND Tp. Hồ Chí Minh; - Công an Tp. Hồ Chí Minh; - Chi cục THADS Quận 6; - Sở Tư pháp Tp. Hồ Chí Minh; - Bị cáo; - Bị hại; - Người có QLNVLQ đến vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thùy Liên |