vanban.org

Bản án 09/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương Tuyên án 18/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo: Vũ Văn Nh, Phạm Đình T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Vũ Văn Nh 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam, ngày 22/12/2020. Xử phạt bị cáo Phạm Đình T 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam, ngày 22/12/2020.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Văn Nh và đồng phạm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo: Vũ Văn Nh, Phạm Đình T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NINH GIANG
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2021/HS-ST
Ngày: 18-3-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Quân;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Huy Điệu;

2. Bà Phạm Thị Tuẫn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Linh – Thứ ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2021/TLST-HS ngày 23 tháng 02 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2021/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2021, đối với các bị cáo:

1. Vũ Văn Nh, sinh năm 1996 tại Gi, Hải Dương. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện Gi, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn Ph và bà Phạm Thị Ng; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 22/12/2020 cho đến nay (hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương). Có mặt tại phiên tòa.

2. Phạm Đình T, sinh năm 1993 tại Gi, Hải Dương. Nơi cư trú: Khu.., thị trấn Gi, huyện Gi, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đình D và bà Phạm Thị A; có vợ (đã ly hôn) và 01 con; tiền sự: không; tiền án: Có 01 tiền án, tại Bản án phúc thẩm số 135/2019/HS-PT ngày 23/10/2019, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xử phạt 07 (bẩy) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chấp hành xong hình phạt ngày 14/12/2019); nhân thân: Ngày 07/10/2010, Trưởng Công an huyện Gia Lộc xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi “Đánh nhau”; ngày 03/8/2011, Trưởng Công an thành phố Hải Dương xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi “Trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của người khác”; ngày 05/6/2012, Trưởng Công an huyện Gia Lộc xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi “Trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của người khác”; ngày 15/10/2012, Trưởng Công an huyện Gia Lộc xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi “Dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác”; tại Bản án số 09/2013/HSST ngày 14/3/2013, Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương xử phạt 05 năm 09 tháng tù về tội “Cướp tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (chấp hành xong bản án ngày 31/8/2015); bị bắt tạm giam từ ngày 22/12/2020 cho đến nay (hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương). Có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại

1. Ông Nguyễn Đình Kh và vợ là bà Mai Thị H; địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện Gi, tỉnh Hải Dương (vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);

2. Chị Nguyễn Thị Nh và chồng là anh Nguyễn Mạnh Tr; địa chỉ: Thôn Ph, xã Ph, huyện Gi, tỉnh Hải Dương (vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Người làm chứng: Anh Bùi Giang S (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong ngày 09 tháng 12 năm 2020, các bị cáo Vũ Văn Nh và Phạm Đình T đã cùng nhau thực hiện hai lần trộm cắp tài sản tại huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Khoảng 10 giờ ngày 09/12/2020, Vũ Văn Nh điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave alpha màu sơn xanh (không có biển số) đến khu.., thị trấn Gi, huyện Gi, tỉnh Hải Dương gặp và rủ Phạm Đình T đi trộm cắp tài sản, T nhất trí. Nh điều khiển xe mô tô chở T ngồi sau đi từ thị trấn Gi theo đường trục Bắc – Nam đến huyện Ninh Giang rồi rẽ vào đường tỉnh lộ 392, khi đi qua cổng nhà ông Nguyễn Văn Y ở thôn Tế Cầu, xã Hồng Đức, huyện Ninh Giang thì phát hiện thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Lisohaka, biển số 34K9 – 07.. của ông Nguyễn Văn Kh (là anh trai của ông Y đến nhà giúp ông Y cho cá ăn) dựng tại sân nhà ông Y, chưa rút chìa khóa điện. Nh điều khiển xe mô tô quay lại và dừng xe cách cổng nhà ông Y khoảng 15m, T ngồi trên yên xe cảnh giới, Nh lén lút đi vào sân nhà ông Y chiếm đoạt chiếc xe mô tô của ông Kh rồi cả hai đi về thị trấn Gi theo đường cũ. Đến thị trấn Gi Nh, T đã gặp và cho người tên Kh1 (Kh1 là bạn quen biết ngoài xã hội của T; không xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể của Kh1) mượn chiếc xe vừa trộm cắp được của ông Nguyễn Đình Kh.

Lần thư hai: Khoảng 12 giờ cùng ngày (ngày 09/12/2020), sau khi ăn trưa xong, Nh lại rủ T đi trộm cắp tài sản. Nh điều khiển xe mô tô chở T đi từ thị trấn Gi theo đường trục Bắc – Nam đến huyện Ninh Giang rồi rẽ vào đường tỉnh lộ 396, khi đến địa phận thôn Đà Phố, xã Hồng Phúc, huyện Ninh Giang thì phát hiện thấy trước cửa quán trà sữa “Tới Bến” của vợ chồng chị Nguyễn Thị Nh, anh Nguyễn Mạnh Tr có dựng 02 chiếc xe mô tô, trong đó có 01 chiếc xe nhãn hiệu Wave alpha, biển số 34E1 – 169... không rút chìa khóa điện. Thấy vậy, Nh điều khiển xe vòng quay lại dừng trước cửa quán và bảo T đưa cho 20.000đ để vào mua trả sữa và tìm cách trộm cắp xe, còn T ngồi trên yên xe cảnh giới. Nh cầm 20.000đ vào quán mua của chị Nh 01 cốc trà sữa, khi quay ra Nh đã lén lút chiếm đoạt chiếc xe Wave alpha, biển số 34E1 – 169... và điều khiển đi về thị trấn Gi. Đến thị trấn Gi Nh tháo gương chiếu hậu, biển số rồi đưa cả gương, biển số và xe vừa trộm cắp được cho T mang đi bán. T mang xe lên thành phố Hải Dương bán nhưng không bán được, trên đường đi T đã vứt gương và biển số xuống ven đường (sau này T không còn nhớ vị trí vứt nên không tìm lại được). Ngày 11/12/2020, T mang xe đến quán Open Game tại phố C, thị trấn L gửi anh Bùi Giang S là nhân viên quản lý quán Game.

Sau khi nhận được tin báo của người bị hại, thông qua hình ảnh từ các Camera an ninh, Cơ quan điều tra Công an huyện Ninh Giang đã tiến hành điều tra làm rõ vụ việc, thu giữ chiếc xe các bị cáo đã trộm cắp của vợ chồng chị Nh, anh Tr tại quán Open Game do Bùi Giang Sơn quản lý.

Tại các kết luận định giá tài sản số 41/KLĐG, số 42/KLĐG ngày 18/12/2020, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND huyện Ninh Giang kết luận: 01 xe mô tô, nhãn hiệu LISOHAKA, biển số 34K9-07… (các bị cáo chiếm đoạt của vợ chồng ông Nguyễn Đình Kh) tại thời điểm ngày 09/12/2020 trị giá: 3.050.000đ (ba triệu, không trăm năm mươi nghìn đồng); 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave Alpha, biển số 34E1-196… (các bị cáo chiếm đoạt của vợ chồng chị Nh) tại thời điểm ngày 09/12/2020 trị giá: 7.100.000đ (bẩy triệu, một trăm nghìn đồng). Tổng tài sản các bị cáo đã chiếm đoạt trị giá: 10.150.000đ (mười triệu, một trăm năm mươi nghìn đồng).

Tại Cáo trạng số: 07/CT-VKS ngày 22/02/2021, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương truy tố các bị cáo Vũ Văn Nh, Phạm Đình T về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự (BLHS) với tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 10.150.000đ (mười triệu, một trăm năm mươi nghìn đồng).

Tại phiên toà: Đại diện VKSND huyện Ninh Giang giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố các bị cáo: Vũ Văn Nh, Phạm Đình T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; các điều 17, 58 và Điều 38 của BLHS đối với cả hai bị cáo; áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS đối với bị cáo T.

Xử phạt bị cáo Vũ Văn Nh từ 12 đến 15 tháng tù; xử phạt bị cáo Phạm Đình T từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo; các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; công nhận Quyết định truy tố của VKSND huyện Ninh Giang đối với các bị cáo là đúng. Các bị cáo xác định do muốn có tiền tiêu xài nên ngày 09/12/2020 đã cùng nhau đến huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương trộm cắp 01 xe mô tô của vợ chồng ông Nguyễn Đức Kh và 01 xe mô tô của vợ chồng chị Nguyễn Thị Nh; các bị cáo rất hối hận về hành vi của mình và đề nghị HĐXX xem xét xử phạt các bị cáo ở mức hình phạt thấp nhất.

Các bị hại đều vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; vợ chồng ông Nguyễn Đức Kh, bà Mai Thị H xác định do không tìm lại được chiếc xe nên các bị cáo đã bồi thường cho ông bà số tiền 3.050.000đ, nay ông bà không có yêu cầu bồi thường gì thêm, đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; vợ chồng chị Nguyễn Thị Nh, anh Nguyễn Mạnh Tr xác định đã được nhận lại chiếc xe mà các bị cáo trộm cắp; biển số và gương xe không tìm lại được song anh chị không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường, đề nghị xử phạt các bị cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Ngày 09/12/2020, các bị cáo Vũ Văn Nh, Phạm Đình T đã cố ý cùng nhau lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô, nhãn hiệu Lisohaka, biển số 34K9-07…, trị giá : 3.050.000đ của vợ chồng ông Nguyễn Đình Kh, bà Mai Thị H dựng tại sân nhà ông Nguyễn Văn Y ở thôn Tế Cầu, xã Hồng Đức, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương vào hồi 10 giờ 30 phút và 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave anpha, biển số 34E1-169…, trị giá: 7.100.000đ của vợ chồng chị Nguyễn Thị Nh, anh Nguyễn Mạnh Tr dựng tại trước cửa quán trà sửa của gia đình tại thôn Đà Phố, xã Hồng Phúc, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương vào hồi 13 giờ 30 phút. Tổng trị giá tài sản các bị cáo chiếm đoạt là 10.150.000đ (mươi triệu, một trăm năm mươi nghìn đồng).

Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật song các bị cáo vẫn cố ý cùng nhau thực hiện; tổng trị giá tài sản các bị cáo chiếm đoạt là 10.150.000đ nên hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cầu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của BLHS. Như vậy, Quyết định truy tố của VKSND huyện Ninh Giang đối với các bị cáo là có căn cứ.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Đặc biệt là trong cùng một ngày các bị cáo liên tiếp thực hiện hai lần trộm cắp tài sản ở cùng địa bàn huyện Ninh Giang, với cùng thủ đoạn là vào ban ngày, sử dụng xe mô tô đi quan sát thấy tài sản để sơ hở là các bị cáo liền trộm cắp, điều đó thể hiện sự liều lĩnh, coi thường pháp luật của các bị cáo nên HĐXX thấy cần thiết phải áp dụng loại hình phạt nghiêm khắc là hình phạt tù đối với các bị cáo.

Xét vai trò, tính chất, mức độ hành vi của từng bị cáo, HĐXX thấy: Các bị cáo là bạn bè của nhau, việc phạm tội của các bị cáo tuy có sự thống nhất từ trước nhưng không có sự cấu kết chặt chẽ, các bị cáo đều là người thực hành nên không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức. Trong vụ án này, bị cáo Nh là người đề xuất việc trộm cắp, chuẩn bị phương tiện đi trộm cắp, trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp nên bị cáo Nh giữ vai trò chính; bị cáo T là người cảnh giới, thực hiện việc mang tài sản trộm cắp được đi tiêu thụ nên giữ vai trò sau Nh.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo; do không tìm lại được chiếc xe đã trộm cắp của vợ chồng ông Kh, bà H nên các bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho người bị hại số tiền 3.050.000đ; được người bị hại (ông Kh, bà H) đề nghị giảm nhẹ hình phạt nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của BLHS.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thực hiện 02 lần trộm cắp tài sản và mỗi lần đều có trị giá trên 2000.000đ nên các bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 2 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS. Ngoài ra, ngày 23/10/2019 bị cáo T đã bị kết án về tội Trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm”, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.

Về nhân thân của các bị cáo: Bị cáo Nh có nhân thân tốt, chưa bị xử lý hành chính, chưa bị kết án lần nào; bị cáo T đã 04 lần bị xử phạt vi phạm hành chính về các hành vi đánh nhau, cố ý xâm hại sức khỏe của người khác, lừa đảo chiếm đoạt tài sản; 02 lần bị kết án về các tội: Cướp tài sản, Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và trộm cắp tài sản.

Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo, HĐXX thấy cần thiết buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại trại giam, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống chung của xã hội một thời gian thì mới đủ tác dụng trừng trị, giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và đấu tranh, phòng ngừa tội phạm chung.

Về hình phạt bổ sung: Bản thân các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản gì có giá trị nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Chiếc xe mô tô trộm cắp của vợ chồng chị Nh, anh Tr đã được thu hồi trả lại cho bị hại; 01 gương xe, 01 biển số xe, 01 xe mô tô trộm cắp của vợ chồng ông Kh, bà H quá trình điều tra không thu giữ được; 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave màu xanh các bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội bị cáo Nh đã trả lại người có tên là H, quá trình điều tra không thu giữ được nên HĐXX không xem xét xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại, vợ chồng ông Kh, bà H đã được bồi thường trị giá chiếc xe bị trộm cắp; chiếc xe mô tô của vợ chồng chị Nh, anh Tr đã được thu hồi, trả lại cho người bị hại, nay người bị hại không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về các hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Ninh Giang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trong vụ án này, người có tên là Kh1 mượn chiếc xe do các bị cáo trộm cắp được của vợ chồng ông Kh; người có tên là H cho Nh mượn chiếc xe mô tô Wave màu xanh các bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội quá trình điều tra không làm rõ được là ai, ở đâu nên không có căn cứ xử lý; đối với anh Bùi Giang S là người quản lý quán Open Game tại C, thị trấn Gi đã cho bị cáo T gửi chiếc xe mô tô trộm cắp của vợ chồng chị Nh, anh Tr nhưng anh S không biết đó là tài sản do trộm cắp mà có nên không phải chịu trách nhiệm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; các điều 17, 58 và Điều 38 của BLHS đối với bị cáo Vũ Văn Nh.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điểm g, h khoản 1 Điều 52; các điều 17, 58 và Điều 38 của BLHS đối với bị cáo Phạm Đình T.

1. Tuyên bố các bị cáo: Vũ Văn Nh, Phạm Đình T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt bị cáo Vũ Văn Nh 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam, ngày 22/12/2020.

- Xử phạt bị cáo Phạm Đình T 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam, ngày 22/12/2020.

2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; Điều 6; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về… án phí và lệ phí Tòa án. Xử buộc các bị cáo Vũ Văn Nh, Phạm Đình T mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, ngày 18/3/2021; người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ