vanban.org

Bản án 09/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 26/01/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Võ T phạm tội: “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”.

Áp dụng: Điểm đ Khoản 3 Điều 3 Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Khoản 1 Điều 146; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Võ T 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án. Thời gian tạm giữ bị cáo từ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ T - phạm tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi (điều 146 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Võ T phạm tội: “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 146 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG ĐIỀN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Bản án số: 09/2021/HS-ST
Ngày 26-01-2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hữu Trí.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thủy - Giáo viên hưu trí.

Và bà Nguyễn Thị Di - Giáo viên hưu trí.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Hạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Phan Phúc Huy – Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 01 năm 2021 tại Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự thụ lý số 168/2020/TLST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2021/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2021, Quyết định thay đổi Hội thẩm số 01/2021/QĐ-TA ngày 20 tháng 01 năm 2021, đối với bị cáo:

Võ T, sinh năm 1973 tại tỉnh Quảng Ngãi. Hộ khẩu thường trú: Ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Chỗ ở: Ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: Lớp 10/12; Nghề nghiệp: Làm biển; Cha là Võ T (đã chết), mẹ là Mai Thị H (đã chết); Bị cáo là con thứ 6 trong gia đình có 6 anh chị em; vợ là Lê Thị M; có 2 người con, con lớn sinh năm 1999, con nhỏ nhất sinh năm 2005.

Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/10/2020 đến ngày 26/10/2020. Hiện nay bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Nguyễn Thị N, sinh ngày 03/10/2011 (vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ A, ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Người đại diện của bị hại: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1968 và bà Kim Thị T, sinh năm 1971 (ông B vắng mặt, bà T có mặt).

Cùng địa chỉ: Tổ A, ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Luật sư Trương Thị Thanh Thủy, thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).

- Người làm chứng: Bà Ngô Thị L, sinh năm 1964 (có mặt).

Địa chỉ: Tổ A, ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ 20 phút ngày 23/10/2020, Võ T đi đến nhà vợ chồng bà Kim Thị T, ông Nguyễn Văn B tại ấp Hải Sơn, xã Phước Hưng, huyện Long Điền để hỏi mua nhà (do trước đó bà T, ông B có rao bán nhà). Khi đến nơi, không có bà T, ông B ở nhà, trong nhà lúc này chỉ có cháu Nguyễn Thị N là con chung của bà T, ông B và 1 cháu trai 6 tuổi ở trong nhà. Sau khi T đi xuống phía sau nhà và nhà bếp, T đi lên nhà yêu cầu cháu N dẫn T đi xem 02 phòng ngủ trong nhà và nói cháu N mở đèn phòng ngủ lên. Sau khi cháu N mở đèn, T đi vào trong phòng ngủ thứ 2 từ ngoài vào. Khi T và cháu N đang đứng trong phòng cạnh giường ngủ, lúc này T nảy sinh ý định muốn hôn cháu N nên T dùng tay ôm bế cháu N đặt nằm ngửa lên giường rồi T khom người xuống và hôn nhiều cái vào mặt cháu N. Ngay lúc này, bà Ngô Thị Liên (là hàng xóm nhà bà T) đi qua nhà bà T và phát hiện sự việc nên đã tri hô cùng người dân bắt giữ T và trình báo cơ quan công an.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Điền, T đã khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tình dục số 359/TD ngày 29/10/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu kết luận đối với cháu Nguyễn Thị N như sau: Không có dấu sây sát da hay bầm tím ở vùng bẹn đùi hai bên. Màng trinh còn nguyên. Không có sự hiện diện tinh trùng trong dịch âm đạo.

Vật chứng thu giữ và xử lý: 01 điện thoại di động hiệu Nokia 3310 màu xanh - trắng và 01 xe mô tô biển số 16H9-6020, đã trao trả lại cho Võ T là chủ sở hữu.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, ông Nguyễn Văn B và bà Kim Thị T không yêu cầu bồi thường thiệt hại nhưng tại phiên tòa bà T có mặt và yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại cho cháu N 50.000.000đ. Bị cáo đồng ý bồi thường thiệt hại cho cháu N 50.000.000đ.

1. Cáo trạng số 08/CT-VKSLĐ ngày 29/12/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền đã truy tố Võ T tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi” theo quy định tại Khoản 1 Điều 146 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền giữ nguyên quan điểm truy tố đối với Võ T đúng theo nội dung bản cáo trạng số 08/CT-VKSLĐ ngày 29/12/2020. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả do hành vi phạm tội của T gây ra, nêu lên những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố: Võ T phạm tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”.

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 146; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Võ T từ 8 tháng đến 12 tháng tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Bà Kim Thị T yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại cho cháu N 50.000.000đ và bị cáo đồng ý bồi thường thiệt hại cho cháu N 50.000.000đ nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

2. Tại phiên tòa, bà Kim Thị T yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại cho cháu N 50.000.000đ và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

3. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại là Luật sư Trương Thị Thanh Thủy thống nhất với tội danh Viện kiểm sát đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, xử phạt bị cáo một mức án nghiêm minh nhằm giáo dục bị cáo. Bởi vì tổn thất về tinh thần đối với cháu N là không gì có thể bù đắp được, hành vi của bị cáo không những gây tổn thương về tinh thần cho cháu N mà còn gây ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của cháu N, gây dư luận xấu trong xã hội. Về trách nhiệm dân sự: Bà T yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại 50.000.000đ thì bị cáo đồng ý nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận việc này, buộc bị cáo bồi thường cho bị hại 50.000.000đ. Và Luật sư Thủy đồng ý với ý kiến của bà T, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

4. Tại phiên tòa, T thừa nhận hành vi phạm tội của mình và đồng ý với tội danh, điều luật và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng mà Đại diện Viện kiểm sát truy tố và luận tội; T đồng ý bồi thường thiệt hại cho bị hại 50.000.000đ; T không bào chữa cho hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.

5. Lời nói sau cùng của T: Xin lỗi gia đình bị hại và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Điền, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại phiên tòa, Võ T khai nhận về hành vi phạm tội do bị cáo gây ra đúng như nội dung Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền đã truy tố. Cụ thể: Vào khoảng 14 giờ 20 phút ngày 23/10/2020, Võ T đã có hành vi dùng tay ôm bế cháu Nguyễn Thị N (sinh ngày 03/10/2011) đặt nằm ngửa lên giường rồi khom người xuống và hôn nhiều cái vào mặt cháu N, tại phòng ngủ thứ 2 từ ngoài vào trong nhà cháu N thuộc ấp Hải Sơn, xã Phước Hưng, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Xét lời khai nhận tội của T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của T tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Hành vi của T là cố ý, nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến khách thể được luật hình sự bảo vệ là quyền được bảo vệ về thân thể, nhân phẩm, danh dự và sự phát triển bình thường về tâm sinh lý của người dưới 16 tuổi. T là người có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự về hành vi “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi” của mình. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định hành vi của T đã phạm tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi” theo quy định tại Khoản 1 Điều 146 Bộ luật Hình sự (tình tiết định tội quy định tại điểm đ Khoản 3 Điều 3 Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao). Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền truy tố đối với T là đúng người, đúng tội, phù hợp với quy định của pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, T thành khẩn khai báo; T phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bố ruột của T là ông Võ Tăng là người có công với cách mạng; tại phiên tòa, T đồng ý bồi thường thiệt hại cho bị hại 50.000.000đ. Do đó, T được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Căn cứ vào hành vi phạm tội, nhân thân của T và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy: Cần xử phạt T hình phạt tù tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội nhằm giáo dục, cải tạo T và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, ông Nguyễn Văn B và bà Kim Thị T không yêu cầu bồi thường thiệt hại nhưng tại phiên tòa bà T có mặt và yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại cho cháu N 50.000.000đ thì bị cáo đồng ý nên Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận này.

Về án phí: Võ T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Võ T phạm tội: “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”.

- Áp dụng: Điểm đ Khoản 3 Điều 3 Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Khoản 1 Điều 146; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Võ T 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án. Thời gian tạm giữ bị cáo từ ngày 23/10/2020 đến ngày 26/10/2020 là 03 ngày, được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 592 Bộ luật Dân sự: Công nhận sự thỏa thuận giữa Võ T và bà Kim Thị T như sau: Buộc Võ T bồi thường thiệt hại cho bị hại là Nguyễn Thị N số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) (người đại diện của bị hại là bà Kim Thị T và ông Nguyễn Văn B).

- Về án phí:

Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Buộc Võ T nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 2.500.000đ (hai triệu, năm trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện của bị hại và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 26/01/2021); bị hại và người đại diện của bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ