vanban.org

Bản án 09/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 05/04/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Đình H, phạm tội: “vận chuyển hàng cấm”.

Xử phạt: Lê Đình H: 80.000.000đ ( Tám mươi triệu đ ng chẵn) nộp ngân sách Nhà nước. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy vật chứng còn lại sau khi giám định g m… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Đình H phạm tội Vận chuyển hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Đình H, phạm tội: “vận chuyển hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOØA AÙN NHAÂN DAÂN
HUYEÄN KROÂNG BUÙK
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Baûn aùn soá: 09/2021/HS-ST
Ngaøy: 05/4/2021
(Phiên tòa theo thủ tục rút gọn)

NHAÂN DANH

NÖÔÙC COÄNG HOØA XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM

TOAØ AÙN NHAÂN DAÂN HUYEÄN KROÂNG BUÙK - TÆNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Văn Hải.

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Đức Anh - Thư ký tòa án nhân dân huyện Krông Búk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk mở phiên toà để xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự thụ lý số 11/2021/HSST, ngày 23/3/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2021/QĐXXST-HS ngày 30/3/2021đối với bị cáo:

Lê Đình H, sinh ngày 10/8/1987, tại tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Tổ dân phố 3, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Thợ sắt; Trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Đình H, sinh năm 1948 và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1948; Bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân: Tại bản án số: 306/2011/HSST ngày 22/11/2011 bị Tòa án nhân dân thành phố BMT xử phạt 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, về tội “Đánh bạc” và tại bản án số: 174/2013/HSST ngày 14/6/2013 bị Tòa án nhân dân thành phố BMT xử phạt 02 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản” ( đều đã xóa án tích).

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/01/2021 đến ngày 21/01/2021 được tại ngoại. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại Tổ dân phố 3, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk – Có mặt tại phiên toà

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan

Bà: Đàm Thị L, sinh năm 1965.

Địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông, vắng mặt

- Người làm chứng:

Anh: Phạm Trường G, sinh năm 1986. Địa chỉ: Thôn Tân Lập 7, xã P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong h sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ ngày 18/01/2021 Lê Đình H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 47L3 – 9788 đi trên đường H Chí Minh theo hướng từ thị xã B về huyện Ea Hleo, khi đi qua khu vực nghĩa trang liệt sỹ thị xã B, H gặp một người đàn ông tên C ( H gặp trước đây vài lần nhưng không rõ họ tên đầy đủ và địa chỉ cụ thể) đang điều khiển xe mô tô ( không rõ biển kiểm soát) đi cùng chiều. Vì nghe nói C có bán pháo nên H hỏi mua để chơi dịp tết Nguyên đán 2021, thì C nói giá 01 hộp pháo 700.000đ; H đ ng ý mua 10 hộp và đưa cho C 7.000.000đ. C lấy tiền xong r i nói H đứng đợi, khoảng 30 phút sau C quay lại dẫn H đến đoạn đường hẻm thuộc thôn 9A, xã P, huyện K, C chỉ cho H 01 thùng giấy cattông để trong bụi cỏ bên lề đường r i C bỏ đi. H xuống xe lấy thùng giấy cattông đưa lên xe r i chạy về hướng thị xã B. Khi đi đến khu vực thôn Tân Lập 5, xã P, huyện K thì bị tổ tuần tra Công an huyện Krông Búk phát hiện, lập biên bản phạm tội quả tang, niêm phong tạm giữ 10 hộp pháo loại 49 viên

Tại bản kết luận giám định số 702/C09B ngày 21 tháng 01 năm 2021, của Phân Viện khoa học hình sự tại thành phố H Chí Minh, kết luận: 10 khối hình chữ nhật có kích thước ( 17cm x17cm x10cm), bên ngoài vỏ bọc giấy nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối có chứa 49 ống hình trụ tròn dài 10cm, đường kính 2,3cm gửi giám định đều là pháo nổ ( pháo hoa nổ). Khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu. Tổng khối lượng 17,8kg.

Vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an đã thu giữ 10 khối hình hộp chữ nhật, mỗi hộp có kích thước 16,5cm x16,5cm x10cm, bên ngoài có in chữ nước ngoài, có khối lượng 18kg được đựng trong 01 thùng cattông bằng giấy; 01 giấy chứng nhận đăng ký mô tô 0004246 do phòng CSGT Công an tỉnh Đắk Lắk cấp cho ông Lê Văn G ( bản gốc); 01 giấy chứng minh nhân dân số 241421671 do Công an tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 23/5/2015 cho Lê Đình H ( bản chính); 01 xe mô tô biển kiểm soát 47L3 – 9788, màu sơn: Đỏ.

Taïi Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn soá 12/QĐ-VKS ngaøy 22/3/2021 cuûa Vieän kieåm saùt nhaân daân huyeän Kroâng Búk ñaõ truy tố bị cáo Lê Đình H về tội “Vận chuyển hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lê Đình H thaønh khaån khai nhaän haønh vi phaïm toäi của mình đúng như Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk đã truy tố.

Taïi phieân toaø, ñaïi dieän Vieän kieåm saùt nhaân daân huyeän Kroâng Buùk sau khi phaân tích, ñaùnh giaù tính chaát vuï aùn, các chứng cứ buộc tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cũng như nhaân thaân của bò caùo ñaõ giöõ nguyeân quyeát ñònh truy toá và ñeà nghò Hoäi ñoàng xeùt xöû tuyên bố bị cáo Lê Đình H phạm tội “Vận chuyển hàng cấm” và đề nghị Hội đ ng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 35, Điều 50 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Đình H từ 55.000.000đ đến 60.000.000đ.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều, điểm a khoản 3 Điều106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng còn lại sau khi giám định g m: 01 thùng giấy niêm phong dấu tròn của phân viện khoa học hình sự tại thành phố H Chí Minh cùng chữ ký của Vũ Đăng Quý, Hoàng Hiến Chương bên trong có 08 khối hình hộp chữ nhật vỏ bọc giấy nhiều màu sắc, kích thước 17cm x 17cm x 10cm bên trong mỗi khối có 49 ống hình trụ tròn đường kính 2,3cm, dài 10cm.

Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại 01 giấy chứng minh nhân dân cho Lê Đình H.

Đối với chiếc xe mô tô có số khung RLHHC12118Y021619; Số máy HC12E-1021638 gắn biển kiểm soát 47L3 – 9788 bị cáo H dùng để vận chuyển pháo, qua xác minh chủ sở hữu là bà Đàm Thị L, trú tại thôn N, xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông bị mất năm 2017, vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tách ra và chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Nô để tiếp tục xác minh, xử lý theo thẩm quyền.

Đối với biển kiểm soát 47L3- 9788 gắn trên chiếc xe mô tô có số khung RLHHC12118Y021619; Số máy HC12E-1021638 và giấy chứng nhận đăng xe số 0004246 qua tra cứu mang tên Lê Văn G, địa chỉ: 15B M, phường T, thành phố B qua xác minh ông G không có mặt tại địa phương nên chưa làm việc được, vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tách ra để tiếp tục xác minh, xử lý sau.

Đối với người đàn ông tên C theo lời khai của bị cáo là người bán pháo cho bị cáo, trong quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch, vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều Công an huyện Krông Búk tách ra để tiếp tục xác minh, xử lý sau là có căn cứ.

Bị cáo đ ng ý với quan điểm xử lý vụ án của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận mà chỉ xin Hội đ ng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong h sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đ ng xét xử nhận định:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã được thu thập có trong h sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa.

Như vây, có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 11 giờ ngày 18 tháng 01 năm 2021, Lê Đình H đã có hành vi mua 10 hộp pháo nổ của một người đàn ông tên C ( không rõ nhân thân lai lịch) tại xã P, huyện K để đốt trong dịp tết Nguyên đán 2021, trên đường vận chuyển từ huyện K đến thị xã B, khi đến thôn Tân Lập 5, xã P, huyện K thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Búk bắt quả tang thu giữ 10 hộp pháo nổ có tổng trọng lượng 17,8kg.

Hành vi của bị cáo Lê Đình H đã phaïm toäi: “Vận chuyển hàng cấm", tội phạm và hình phạt được quy ñònh taïi điểm c khoaûn 1 Ñieàu 191 Bộ luật hình sự.

Tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 239, 244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

c) Pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam;

Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đ ng xét xử nhận thấy:

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được tác hại của pháo nổ đối với bản thân và toàn xã hội, bị cáo cũng nhận thức được rằng hành vi vận chuyển hàng cấm là vi phạm pháp luật, nhưng do ham vui cá nhân, coi thường pháp luật nên đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội vận chuyển hàng cấm của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý một số hàng hóa của Nhà nước, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn. Do vậy, hành vi của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật để giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung loại tội phạm này trong toàn xã hội.

Xét về nhân thân của bị cáo thấy rằng: Có nhân thân xấu cụ thể tại bản án số: Tại bản án số: 306/2011/HSST ngày 22/11/2011 bị Tòa án nhân dân thành phố BMT xử phạt 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, về tội “Đánh bạc” và tại bản án số: 174/2013/HSST ngày 14/6/2013 bị Tòa án nhân dân thành phố BMT xử phạt 02 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản” (đã chấp hành xong hình phạt và đương nhiên xóa án tích).

Như vậy bị cáo đã 02 lần phạm tội và 01 lần đã bị phạt tù có thời hạn, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân để trở thành người có ích cho xã hội và gia đình, mà ngược lại đến ngày 18/01/2021 bị cáo lại tiếp tục phạm tội “ Vận chuyển hàng cấm”. Vì vậy cần phải xem xét trong khi lượng hình đối với bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Lê Đình H đã thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng cho bị cáo, nhằm thể hiện sự khoan h ng của pháp luật Nhà nước ta.

Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, xét mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là chưa tương xứng với hành vi của bị cáo gây ra, vì vậy cần tăng hình phạt để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

Tuy nhiên xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, cho nên Hội đ ng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tiền được quy định tại Điều 35 của Bộ luật hình sự cũng đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.

Đối với người đàn ông tên C theo lời khai của bị cáo là người bán pháo cho bị cáo, trong quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch, vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều Công an huyện Krông Búk tách ra để tiếp tục xác minh, xử lý sau là có căn cứ.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy vật chứng còn lại sau khi giám định g m: 01 thùng giấy niêm phong dấu tròn của phân viện khoa học hình sự tại thành phố H Chí Minh cùng chữ ký của Vũ Đăng Quý, Hoàng Hiến Chương bên trong có 08 khối hình hộp chữ nhật vỏ bọc giấy nhiều màu sắc, kích thước 17cm x 17cm x 10cm bên trong mỗi khối có 49 ống hình trụ tròn đường kính 2,3cm, dài 10cm.

( Vật chứng có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Búk và Chi cục Thi hành án huyện Krông Búk ngày 25/3/2021)

Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại 01 giấy chứng minh nhân dân cho Lê Đình H.

Đối với chiếc xe mô tô có số khung RLHHC12118Y021619; Số máy HC12E-1021638 gắn biển kiểm soát 47L3 – 9788 bị cáo Hoàng dùng để vận chuyển pháo, qua xác minh chủ sở hữu là bà Đàm Thị L, trú tại thôn N, xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông bị mất năm 2017, vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tách ra và chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Nô để tiếp tục xác minh, xử lý theo thẩm quyền.

Đối với biển kiểm soát 47L3- 9788 gắn trên chiếc xe mô tô có số khung RLHHC12118Y021619; Số máy HC12E-1021638 và giấy chứng nhận đăng xe số 0004246 qua tra cứu mang tên Lê Văn G, địa chỉ: 15B M, phường T, thành phố Buôn Ma Thuột qua xác minh ông G không có mặt tại địa phương nên chưa làm việc được, vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tách ra để tiếp tục xác minh, xử lý sau.

Về án phí: Buộc bị cáo Lê Đình H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Đình H, phạm tội: “vận chuyển hàng cấm”.

2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 50 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Lê Đình H: 80.000.000đ ( Tám mươi triệu đ ng chẵn) nộp ngân sách Nhà nước.

3. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy vật chứng còn lại sau khi giám định g m: 01 thùng giấy niêm phong dấu tròn của phân viện khoa học hình sự tại thành phố H Chí Minh cùng chữ ký của Vũ Đăng Quý, Hoàng Hiến Chương bên trong có 08 khối hình hộp chữ nhật vỏ bọc giấy nhiều màu sắc, kích thước 17cm x 17cm x 10cm bên trong mỗi khối có 49 ống hình trụ tròn đường kính 2,3cm, dài 10cm.

( Vật chứng có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Búk và Chi cục Thi hành án huyện Krông Búk ngày 25/3/2021)

Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại 01 giấy chứng minh nhân dân cho Lê Đình H.

Đối với chiếc xe mô tô có số khung RLHHC12118Y021619; Số máy HC12E-1021638 gắn biển kiểm soát 47L3 – 9788 bị cáo Hoàng dùng để vận chuyển pháo, qua xác minh chủ sở hữu là bà Đàm Thị L, trú tại thôn N, xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông bị mất năm 2017, vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tách ra và chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Nô để tiếp tục xác minh, xử lý theo thẩm quyền.

Đối với biển kiểm soát 47L3- 9788 gắn trên chiếc xe mô tô có số khung RLHHC12118Y021619; Số máy HC12E-1021638 và giấy chứng nhận đăng xe số 0004246 qua tra cứu mang tên Lê Văn G, địa chỉ: 15B M, phường T, thành phố Buôn Ma Thuột qua xác minh ông G không có mặt tại địa phương nên chưa làm việc được, vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tách ra để tiếp tục xác minh, xử lý sau.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lê Đình H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đ ng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án về phần có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ