vanban.org

Bản án 09/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 05/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Võ Thị Quỳnh T phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt các bị cáo Võ Thị Quỳnh T 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng tính từ ngày tuyên án (05/3/2021). Giao bị cáo cho UBND thị trấn T, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Thị Quỳnh T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Thị Quỳnh T phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐƠN DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 09/2021/HS-ST
Ngày: 05 - 3 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN HUYỆN ĐƠN DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Đình Anh Vũ.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Thái Thân;

2. Bà Hoàng Thị Xoan.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Ngân – là thư ký Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Duy Lợi – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 06/2021/TLST-HS ngày 26 tháng 01 năm 2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2021/QĐXXST - HS ngày 19 tháng 02 năm 2021 đối với bị cáo:

Võ Thị Quỳnh T, sinh năm 1979 tại Quảng Ngãi; Nơi cư trú: Tổ dân phố N 3, thị trấn T, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Duy Rân, sinh năm: 1957 và bà Phạm Thị Minh Nguyệt, sinh năm: 1957; bị cáo có chồng là Nguyễn Anh D, sinh năm: 1986 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2002 và con nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án: không; tiền sự: không; Bị cáo tại ngoại tại TDP N 3, thị trấn T, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng (Có mặt).

Người bị hại: chị Nguyễn Thị Bích T1, sinh năm: 1991; địa chỉ: TDP NH, thị trấn T, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 19/11/2020, bị cáo Võ Thị Quỳnh T đi tới Kiốt sửa chữa quần áo của chị Nguyễn Thị Bích T1 tại chợ T chơi nhưng không có chị Bích T1 ở quầy mà có con của chị Bích T1 là Phan Quốc V đang chơi điện thoại. Sau khi cháu Vinh không chơi điện thoại nữa mà bỏ điện thoại trên bàn tại quầy rồi chạy đi tìm mẹ. Thấy không có ai trong ki ốt nên nên bị cáo nảy sinh ý định trộm cắp và đến bàn lấy điện thoại di động tắt chuông, bỏ vào túi quần rồi đi về gian hàng của mình. Đến khoảng 09 giờ 00 phút cùng ngày, chị Bích T1 về phát hiện điện thoại của mình bị mất nên trình báo công an thị trấn T. Sau đó, hành vi trộm cắp của bị cáo bị phát hiện.

Kết luận định giá tài sản số 76/2020/KL/HĐĐGTS 25/11/2020 của hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đơn Dương kết luận điện thoại di động cảm ứng hiệu Xiaomi Redmi Notes 9S, Ram 6GB, Bộ nhớ trong 128GB màu xám tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị 5.942.679đ.

Tại bản Cáo trạng số 07/CT-VKSĐD ngày 26/01/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương đã truy tố bị cáo Võ Thị Quỳnh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015.

Quá trình điều tra và tại phiên Tòa hôm nay, bị hại Nguyễn Thị Bích T1 khai khoảng 08 giờ 30 phút ngày 19/11/2020 sau khi giao điện thoại Xiaomi Redmi Notes 9S cho con là Phạm Quốc V chơi ở trong kiốt để đi mua đồ ăn sáng. Khi đi về thì phát hiện điện thoại đã bị mất nên gia đình chị đã đã trình báo công an. Cơ quan công an đã điều tra thu giữ và trả cho chị điện thoại Xiaomi Redmi Notes 9S. Chị không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo. Về trách nhiệm hình sự, chị yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 65; Điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51, Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Võ Thị Quỳnh T từ 09 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo không thắc mắc gì với nội dung bản cáo trạng, khai nhận hành vi trộm cắp tài sản như cáo trạng nêu, không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đơn Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lợi dụng sơ hở của người khác, bị cáo đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bị hại là điện thoại di động cảm ứng hiệu Xiaomi Redmi Notes 9S, Ram 6GB, Bộ nhớ trong 128GB màu xám của bị hại Nguyễn Thị Bích T1 có giá trị là 5.942.679đ đồng.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên và thống nhất với kết luận định giá 76/2020/KL/HĐĐGTS 25/11/2020 của hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đơn Dương. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp lời khai của bị hại, bảng ảnh hiện trường, biên bản định giá tài sản và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Võ Thị Quỳnh T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015; Cáo trạng của Viên kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương truy tố các bị cáo là có căn cứ.

Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Vì bản tính tham lam, bị cáo đã lợi dụng sơ hở lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc bị cáo chịu mức án tương xứng với hành vi của bị cáo mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hiện bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, có nơi cư trú rõ ràng, tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ được hưởng quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách cũng đủ có tác dụng để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội và cũng thể hiện chính sách nhân đạo, sự độ lượng khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng...”. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo thấy rằng bị cáo buôn bán nhỏ, có điều kiện kinh tế khó khăn, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: bị hại không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo nên không đề cập đến.

Về vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đơn Dương tạm giữ và trả lại cho bị hại Nguyễn Thị Bích T1 điện thoại Xiaomi Redmi Notes 9S như trong quyết định tạm giữ đồ vật, tài liệu ngày 30/11/2020 và quyết định xử lý vật chứng và biên bản trả lại đồ vật, tài liệ ngày 15/12/2020 của Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Đơn Dương. Sau khi nhận lại tài sản này, bị hại không có yêu cầu hay đề nghị gì khác nên không xem xét đến.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Võ Thị Quỳnh T phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; Các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Võ Thị Quỳnh T.

Xử phạt các bị cáo Võ Thị Quỳnh T 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng tính từ ngày tuyên án (05/3/2021).

Giao bị cáo cho UBND thị trấn T, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại 92 Luật thi hành án hình sự. Trong Thời gian thử thách, nếu người hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Toà án có thể buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã tuyên cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 55, Điều 56 của Bộ luật hình sự.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; các điểm a, f Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Võ Thị Quỳnh T phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm./. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Tòa án ND tỉnh Lâm Đồng (2)

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh Lâm Đồng (1)

- VKSND huyện Đơn Dương (1)

- Sở tư pháp tỉnh Lâm Đồng (1)

- Công an huyện Đơn Dương (1)

- Chi cục THA dân sự Đơn Dương (1)

- Bị cáo (1)

- Bị hại (1)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (1)

Lê Đình Anh Vũ

- Lưu hồ sơ (1). CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thái Thân Hoàng Thị Xoan

Lê Đình Anh Vũ Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Tòa án ND tỉnh Lâm Đồng (2)

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh Lâm Đồng (1)

- VKSND huyện Đơn Dương (1)

- Sở tư pháp tỉnh Lâm Đồng (1)

- Công an huyện Đơn Dương (1)

- Chi cục THA dân sự Đơn Dương (1)

- Bị cáo (1)

- Bị hại (1)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (1)

Lê Đình Anh Vũ

- Lưu hồ sơ (1). CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Đ c La

Vũ V n C ng

Lê Đình Anh Vũ

Cỡ chữ