vanban.org

Bản án 09/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau Tuyên án 14/04/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Út M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về trách nhiệm hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Út M 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, ngày 05 tháng 01 năm 2021. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Út M - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Út M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2021/HS-ST
Ngày 14 - 4 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Dũng Liêm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đặng Hữu Thọ.

Ông Nguyễn Văn Hiển.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ánh Hồng là Thư ký Toà án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi tham gia phiên tòa: Ông Võ Việt Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 4 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2021/TLST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2021/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Út M, sinh năm 1996 tại Cà Mau. Nơi cư trú: Ấp T, xã TAK, huyện Đ, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Út K; chưa có vợ và con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ từ ngày 05/01/2021 đến ngày 11/01/2021 chuyển tạm giam cho đến nay (có mặt).

- Người làm chứng:

+ Anh Hàn Ty P, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Ấp T, xã TAK, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

+ Bà Nguyễn Ngọc V, sinh năm 1968. Nơi cư trú: Ấp T, xã TAK, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 04/01/2021, từ tin báo của bà Nguyễn Ngọc V và anh Hàn Ty P về việc bị cáo Nguyễn Út M đang tàng trữ trái phép chất ma túy tại nhà của bị cáo, Công an xã TAK, huyện Đ tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang vụ việc và thu giữ 07 gói nilon màu trắng trong suốt đã được hàn kín, bên trong có chứa nhiều tinh thể rắn màu trắng; 01 ống thủy tinh màu trắng là dụng cụ để sử dụng ma túy và 01 điện thoại di động hiệu BIRD, màu đen có gắn sim số 0355.299.174. Qua làm việc, bị cáo thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và khai nhận nguồn gốc ma túy trên như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 01/01/2021, bị cáo mượn xe mô tô nhãn hiệu YMH, biển kiểm soát 54N6 – 6360 của chị Võ Thúy L là chủ đoàn lô tô ở xã TT, huyện Đ để đi đến bến phà Kênh 17 thuộc ấp K, xã TG, huyện N, tỉnh Cà Mau gặp người thanh niên tên Nhân (chưa xác định được lai lịch) mua một gói ma túy đá với giá 200.000 đồng, sau đó bị cáo điều khiển xe về nhà của bị cáo ở Ấp T, xã TAK, huyện Đ. Đến khoảng 19 giờ ngày 03/01/2021, bị cáo điều khiển xe của chị L đến gặp Nguyễn Nhật Tr ở khóm 5, thị trấn Đ, huyện Đ cầm xe cho Tr với giá 1.000.000 đồng, sau đó đi bộ về nhà ngủ. Đến khoảng 13 giờ ngày 04/01/2021, bị cáo lấy gói ma túy đã mua trộn lẫn với bột ngọt có sẵn tại nhà, chia ra được 07 gói nilon và còn lại một ít ma túy bị cáo sử dụng tại phòng ngủ của bị cáo. Sau khi sử dụng ma túy được khoảng 30 phút thì bà Nguyễn Ngọc V phát hiện vụ việc và báo Công an xã TAK đến lập biên bản quả tang và thu giữ tang vật.

Tại kết luận giám định số 27/GĐH – PC09 ngày 06/01/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau kết luận các tinh thể rắn, trong suốt bên trong 07 gói nilon thu giữ của bị cáo M như sau:

- Tinh thể màu trắng bên trong gói nilon thứ nhất, thứ hai, thứ ba, thứ tư, thứ năm được hàn kín, niêm phong kín trong phong bì hình chữ nhật có viết tên M; chữ ký, chữ viết họ tên Hồ Châu Á, Phạm Thế Lộc; chữ ký, dấu tên màu đỏ Thiếu tá Trương Minh Giảng và 02 hình dấu tròn màu đỏ của Công an xã TAK, huyện Đ, tỉnh Cà Mau gửi giám định có khối lượng: Gói nilon thứ nhất: 0,2985 gam; gói nilon thứ hai: 0,4696 gam; gói nilon thứ ba: 0,3659 gam; gói nilon thứ tư: 0,1968 gam; gói nilon thứ năm: 0,1966 gam.

- Tinh thể bên trong gói nilon thứ nhất, thứ hai, thứ ba, thứ tư, thứ năm đều chưa tìm thấy chất ma túy, tiền chất dùng sản xuất trái phép chất ma túy nằm trong Nghị định 73/2018/NĐ – CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; Nghị định số 60/2020/NĐ – CP ngày 29/5/2020 của Chính phủ sửa đổi bổ sung Danh mục các chất ma túy và tiền chất.

- Tinh thể màu trắng bên trong gói nilon thứ sáu được hàn kín, niêm phong kín trong phong bì hình chữ nhật có viết tên M; chữ ký, chữ viết họ tên Hồ Châu Á, Phạm Thế Lộc; chữ ký, dấu tên màu đỏ Thiếu tá Trương Minh Giảng và 02 hình dấu tròn, màu đỏ của Công an xã TAK, huyện Đ, tỉnh Cà Mau gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1920 gam, loại Methamphetamine.

- Tinh thể màu trắng bên trong gói nilon thứ bảy được hàn kín, niêm phong kín trong phong bì hình chữ nhật có viết tên M; chữ ký, chữ viết họ tên Hồ Châu Á, Phạm Thế Lộc; chữ ký, dấu tên màu đỏ Thiếu tá Trương Minh Giảng và 02 hình dấu tròn, màu đỏ của Công an xã TAK, huyện Đ, tỉnh Cà Mau gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1150 gam, loại Methamphetamine.

Tổng khối lượng ma túy trong gói nilon thứ sáu và thứ bảy là 0,307 gam loại Methamphetamine.

Tại bản cáo trạng số: 11/CT–VKS ngày 11/3/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi truy tố bị cáo Nguyễn Út M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Út M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Út M từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì hoàn mẫu số 27/GDH – PC09 ngày 06/01/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau được niêm phong kín, có chữ ký, chữ viết họ tên giám định viên Dương Hải Đăng (người chứng kiến), Hồ Châu Á; 01 (một) ống thủy tinh màu trắng trong suốt dùng để sử dụng ma túy. Trả lại cho bị cáo: 01 (một) điện thoại di động hiệu BIRD, màu đen có gắn sim số 0355.299.174 (đã qua sử dụng).

Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định.

- Bị cáo trình bày: Đồng ý với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo, không có ý kiến gì khác.

- Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết sai, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của chính bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Từ đó có cơ sở xác định: Khoảng 08 giờ ngày 01/01/2021, bị cáo đến bến phà Kênh 17 thuộc ấp K, xã TG, huyện N, tỉnh Cà Mau gặp một người tên Nhân (chưa rõ lai lịch) mua một gói ma túy đá với giá 200.000 đồng đem về nhà cất giữ. Đến khoảng 13 giờ ngày 04/01/2021, bị cáo lấy gói ma túy đã mua trộn lẫn với bột ngọt, chia ra được 07 gói nilon và còn lại một ít ma túy bị cáo sử dụng tại phòng ngủ của bị cáo. Sau khi sử dụng ma túy thì bà Nguyễn Ngọc V phát hiện vụ việc và báo Công an xã TAK, huyện Đ lập biên bản quả tang, thu giữ tang vật. Tại bản kết luận giám định số 27/GĐH – PC09 ngày 06/01/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau kết luận các tinh thể rắn, trong suốt bên trong 07 gói nilon thu giữ của bị cáo như sau:

Tinh thể màu trắng bên trong gói nilon thứ nhất, thứ hai, thứ ba, thứ tư, thứ năm đều chưa tìm thấy chất ma túy, tiền chất dùng sản xuất trái phép chất ma túy nằm trong Nghị định 73/2018/NĐ – CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; Nghị định số 60/2020/NĐ – CP ngày 29/5/2020 của Chính phủ sửa đổi bổ sung Danh mục các chất ma túy và tiền chất.

Tinh thể màu trắng bên trong gói nilon thứ sáu gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1920 gam, loại Methamphetamine.

Tinh thể màu trắng bên trong gói nilon thứ bảy gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1150 gam, loại Methamphetamine.

Tổng khối lượng ma túy trong gói nilon thứ sáu và thứ bảy là 0,307 gam loại Methamphetamine.

Do đó có cơ sở kết luận: Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi truy tố bị cáo Nguyễn Út M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Về trách nhiệm hình sự: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây nguy hại đến tính mạng, sức khoẻ của con người, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm mục đích sử dụng để thỏa mãn nhu cầu về ma túy cho bản thân, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự và hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo. Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, biết tuân thủ pháp luật đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe, phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 phong bì hoàn mẫu số 27/GDH – PC09 ngày 06/01/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau được niêm phong kín, có chữ ký, chữ viết họ tên giám định viên Dương Hải Đăng (người chứng kiến), Hồ Châu Á. Đây là mẫu vật hoàn lại sau giám định thuộc đối tượng cấm tàng trữ, lưu hành và 01 ống thủy tinh màu trắng trong suốt dùng để sử dụng ma túy không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu BIRD, màu đen có gắn sim số 0355.299.174 (đã qua sử dụng) của bị cáo, quá trình điều tra xác định không có liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu YMH, biển kiểm soát 54N6 – 6360 của chị Võ Thúy L, chị L không biết mục đích của bị cáo mượn xe để mua ma túy, sau đó bị cáo đi cầm cho anh Nguyễn Nhật Tr với giá 1.000.000 đồng mà không có sự đồng ý của chị L, do hành vi chưa cấu thành tội phạm về hình sự nên Công an xã TT, huyện Đ đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với bị cáo về hành vi này, hiện chị L đã nhận lại tài sản nên không đặt ra xem xét.

Đối với anh Nguyễn Nhật Tr là người cầm xe mô tô từ bị cáo, quá trình điều tra xác định anh Tr không biết chiếc xe mô tô trên là do bị cáo mượn của chị L và anh Tr không yêu cầu gì về số tiền đã bỏ ra để cầm chiếc xe mô tô trên nên không đặt ra xem xét.

Đối với người bán ma túy cho bị cáo tên Nhân, do chưa xác định được lý lịch, nhân thân nên Cơ quan điều tra tách ra để điều tra xử lý sau là có căn cứ.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, hình phạt, xử lý vật chứng là có căn cứ, được chấp nhận.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Út M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về trách nhiệm hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Út M 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, ngày 05 tháng 01 năm 2021.

3. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì hoàn mẫu số 27/GDH – PC09 ngày 06/01/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau được niêm phong kín, có chữ ký, chữ viết họ tên giám định viên Dương Hải Đăng (người chứng kiến), Hồ Châu Á; 01 (một) ống thủy tinh màu trắng trong suốt dùng để sử dụng ma túy.

Trả lại cho bị cáo: 01 (một) điện thoại di động hiệu BIRD, màu đen có gắn sim số 0355.299.174 (đã qua sử dụng).

(Hiện vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 11/3/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đầm Dơi và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi).

4. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ