vanban.org

Bản án 09/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Hải Dương Tuyên án 13/02/2021 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị N ly hôn anh Nguyễn Văn M.

Về quan hệ con chung: Xử giao cháu Nguyễn Mạnh C, sinh ngày 07/8/2013 cho chị Phạm Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung tròn 18 tuổi trưởng thành. Chấp nhận sự tự nguyện của chị N tạm thời không yêu cầu anh M phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Sau khi ly hôn, người k… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn giữa nguyễn đơn Phạm Thị N ,bị đơn Nguyễn Thị M"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị N ly hôn anh Nguyễn Văn M.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_____________
Bản án số: 09/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 13/01/2021
“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Trường.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Dung;

Bà Đỗ Thị Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tưởng - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 189/2020/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 11 năm 2020, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/12/2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 116/2020/QĐST-HNGĐ ngày 28/12/2020, giữa:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị N, sinh ngày 03/8/1992.

ĐKHK: Thôn Đ, xã H, huyện C, tỉnh Hải Dương.

Chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã N, huyện C, tỉnh Hải Dương.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn M, sinh ngày 27/02/1989.

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn Đ, xã H, huyện C, tỉnh Hải Dương. Hiện đang lao động tại: Đài Loan.

Các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn xin ly hôn, các bản khai - Nguyên đơn chị Phạm Thị N trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn M kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện C, tỉnh Hải Dương vào ngày 19/9/2012. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại gia đình anh M. Quá trình chung sống hạnh phúc đến khi sinh con thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau, anh M luôn nghi ngờ và ghen tuông vô cớ nên xúc phạm, chửi mắng, đánh đập chị. Chị và anh M có thời gian cùng nhau sang lao động tại Đài Loan, sau đó anh M sang Đài Loan lần thứ 2. Từ khi sang Đài Loan làm ăn lần 2 anh rất ít liên lạc và không gửi tiền về cho chị để chăm lo cho con cái và gia đình. Anh nghe theo mẹ không chịu về nước mà còn đuổi chị về nhà đẻ ở, chị bỏ về nhà đẻ ở từ cuối năm 2018 cho đến nay, vợ chồng sống ly thân không ai quan tâm đến ai. Chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh M.

Về con chung: Chị và anh M có 01 con chung là Nguyễn Mạnh C, sinh ngày 07/8/2013. Chị đề nghị được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung cho đến khi thành niên (tròn 18 tuổi), chị tự nguyện không yêu cầu anh M phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại lời khai của bà Nguyễn Thị H (mẹ đẻ anh M) xác định, anh M hiện đang sinh sống và lao động tại Đài Loan, bà không biết địa chỉ cụ thể nên không cung cấp cho Tòa án được. Tuy nhiên anh M vẫn thỉnh thoảng liên lạc về gia đình qua điện thoại. Bà đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và có trách nhiệm thông báo cho anh M biết. Anh M có quan điểm nhất trí ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết con chung theo quy định của pháp luật; anh xác định vợ chồng không có tài sản chung và đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt anh.

Tòa án xác minh tại chính quyền địa phương nơi chị N, anh M cư trú và đăng ký kết hôn thể hiện: Chị N, anh M kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn UBND xã H, huyện C, tỉnh Hải Dương. Quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do điều kiện kinh tế khó khăn, anh M phải sang Đài Loan lao động, chị N bỏ về nhà đẻ ở từ năm 2018 bỏ lại con nhỏ cho mẹ chồng nuôi dưỡng. Nay chị N có đơn xin ly hôn, địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại biên bản lấy lời khai cháu Nguyễn Mạnh C là con của chị N, anh M là có nguyện vọng ở với mẹ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 51, 56; 81; 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị N được ly hôn anh Nguyễn Văn M. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Mạnh C, sinh ngày 07/8/2013 cho chị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con thành niên (tròn 18 tuổi). Chấp nhận sự tự nguyện của chị N không yêu cầu anh M phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Chị N phải chịu án phí dân sư sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Nguyên đơn chị Phạm Thị N hiện đang sinh sống ở Việt Nam, bị đơn anh Nguyễn Văn M nơi cư trú cuối cùng trước khi xuất cảnh ở Thôn Đ, xã H, huyện C, tỉnh Hải Dương. Hiện đang lao động tại Đài Loan. Do vậy, TAND tỉnh Hải Dương thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị N không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh M ở nước ngoài. Tòa án đã nhiều lần yêu cầu gia đình anh M cung cấp địa chỉ, cũng như thực hiện yêu cầu của Tòa án thông báo cho anh M biết Tòa án đang giải quyết vụ án ly hôn giữa chị N và anh nhưng gia đình không cung cấp được. Do vậy, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Mặt khác, mẹ đẻ anh M là bà Nguyễn Thị H vẫn thường xuyên liên lạc với anh M. Bà H đã nhận các văn bản tố tụng và cam đoan thông báo cho anh M biết việc Tòa án giải quyết ly hôn giữa chị N với anh M. Tuy nhiên anh M vắng mặt lần thứ hai và có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt, chị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do vậy, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.

. Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị N và anh Nguyễn Văn M kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện C, tỉnh Hải Dương vào ngày 19/9/2012, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị chung sống với nhau đến năm 2014 thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, anh M luôn nghi ngờ và ghen tuông vô cớ nên vợ chồng thường xuyên xảy ra đánh, cãi chửi nhau. Từ khi anh M đi lao động lần thứ hai anh không quan tâm đến gia đình vợ con, không liên lạc và không gửi tiền về cho chị nuôi con. Chị đã bỏ về nhà đẻ ở từ năm 2018, vợ chồng sống ly thân không ai quan tâm đến ai, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh M. Anh M ở nước ngoài nhưng thông qua gia đình cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn nên có quan điểm đồng ý ly hôn. HĐXX xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị M và anh N đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho chị N ly hôn anh M là phù hợp với quy định tại Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị Phạm Thị N và anh Nguyễn Văn M có một con chung là Nguyễn Mạnh C, sinh ngày 07/8/2013, hiện đang ở với bà H. Chị N có nguyện vọng được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Xét thấy con chung của anh, chị hiện vẫn còn nhỏ cần có sự chăm sóc của người mẹ; cháu Nguyễn Mạnh C có nguyện vọng được ở với chị N. Mặt khác anh M đang ở nước ngoài, không có mặt ở Việt Nam nên không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con. HĐXX chấp nhận giao con chung Nguyễn Mạnh C cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với các Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Chấp nhận sự tự nguyện của chị N tạm thời không yêu cầu anh M phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên HĐXX không đặt ra giải quyết.

. Về án phí: Chị Phạm Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (về hôn nhân gia đình) theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì những lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị N ly hôn anh Nguyễn Văn M.

2. Về quan hệ con chung: Xử giao cháu Nguyễn Mạnh C, sinh ngày 07/8/2013 cho chị Phạm Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung tròn 18 tuổi trưởng thành. Chấp nhận sự tự nguyện của chị N tạm thời không yêu cầu anh M phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản, nợ chung: Không có nên không đặt ra giải quyết.

4. Về án phí: Chị Phạm Thị N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (về Hôn nhân gia đình), được đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số AA/2018/0004752 ngày 30/10/2020 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị Phạm Thị N đã nộp đủ án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Anh Nguyễn Văn M được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ