vanban.org

Bản án 09/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: cho ly hôn giữa anh Cao Văn K và chị Nguyễn ThịH.

Án phí ly hôn sơ thẩm: anh Cao Văn K phải chịu tiền án phí sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà anh K đa nô ̣̃ p ta ̣i Chi cu ̣c Thi hành án dân sự huyê ̣n Thanh Liêm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005125 ng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn Cao Văn K - Nguyễn Thị H"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: cho ly hôn giữa anh Cao Văn K và chị Nguyễn ThịH.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH LIÊM
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 07 - 4 - 2021
V/v Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH LIÊM - TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Lại Xuân Cảnh;

Các Hội thẩm nhân dân: ông Quách Xuân Luyện và ông Nguyễn Thế Quy.́

- Thư ký phiên toà: bà Hoàng Thị Vân Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: ông Vũ Đình Tưởng - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 98/2020/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 11 năm 2020 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2021 và Quyết đi ̣nh hoan phiên tõ

̀a số 05/2021/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 3 năm 2021, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: anh Cao Văn K - sinh năm 1973; vắng mă ̣t (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);

* Bị đơn: chị Nguyễn Thị H - sinh năm 1980; vắng mă ̣t lần thứ hai không có lý do;

Cùng nơi ĐKHKTT: thôn DN (nay là thôn TP), xã TP, huyê ̣n TL, tỉnh Hà Nam.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 04/11/2020 và bản tự khai, nguyên đơn - anh Cao Văn K trình bày: anh và chị Nguyễn Thị H kết hôn vớ i nhau trên cơ sở tự nguyê ̣n, đăng ký kết hôn tại UBND xã Thanh Phong, huyê ̣n Thanh Liêm , tỉnh Hà Nam ngày 15/9/2001. Sau khi kết hôn, anh chi ̣ sống ở thôn DN (nay là thôn TP), xã TP. Anh chi ̣ chung sống hòa thuâ ̣n, hạnh phúc được khoảng 05 năm thi

̀ phát sinh mâu thuẫn . Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh chi ̣ không hợp nhau về tính cách, hơn nữa anh làm ăn kinh tế thua lỗ , dẫn đến kinh tế vợ chồng khó khăn. Anh còn phải nuôi 02 con riêng vớ i ngườ i vợ trướ c , nên khi có con chung vớ i chị H, thì kinh tế vợ chồng khó khăn hơn , vợ chồng có nhiều xung đô ̣t , dần dần tinh cảm la ̣nh nha ̣t . Anh chi ̣ không có sự đồng cảm , sẻ chia, viê ̣c chăm sóc

̀ con chung, con riêng gă ̣p nhiều khó khăn, vất vả. Đến năm 2010, anh chi ̣ sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau và chấm dứ t mo ̣i quan hê ̣ tinh cảm

. Mâu

̀ thuẫn của vợ chồng đa đượ̃

c hai bên gia đinh khuyên bảo về đoàn tu ̣, song không

̀

thành. Nay, anh xác định mâu thuẫn vợ chồng đa trẫ ̀m tro ̣ng , kéo dài nhiều năm nay, tình cảm vợ chồng không còn , đề nghị Tòa án giải quyế t cho anh được ly hôn vớ i chi ̣ H.

Về con chung : vợ chồng có 01 con chung là Cao Viê ̣t B - sinh ngày 04/6/2002; hiê ̣n cháu B đa trên 18 tuỗ

̉i, học Cao đẳng v à tự lập được , nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: vợ chồng không có tài sản chung gi, nên anh không yêu

̀ cầu Toà án giải quyết.

Về công nợ: vợ chồng không nợ ai và không ai nợ vợ chồng, nên anh không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về công sức đóng góp, trợ cấp khó khăn sau ly hôn: anh không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Tại bản tự khai ngày 23/12/2020, bị đơn - chị Nguyễn Thị H trình bày: chị kết hôn với anh Cao Văn K trên cơ sở tự nguyê ̣n, đăng ký kết hôn ta ̣i UBND xã Thanh Phong năm 2001. Nay, anh K xin ly hôn , chị đồng ý ly hôn . Về con chung: vợ chồng có 01 con chung là Cao Viê ̣t B - sinh ngày 04/6/2002, hiê ̣n cháu đang học Trường Cao đẳng Bách Khoa , nên chi ̣ không yêu cầu giải quyết về con chung.

Về tài sản : không có ; về công nợ, công sức đóng góp, trợ cấp khó khăn sau ly hôn: chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm đã nhiều lần triệu tập, thông báo cho chị Nguyễn Thị H đến Tòa án để tham gia các buổi kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng chi ̣ H đều vắng mặt không có lý do. Mặc dù Tòa án cùng chính quyền xa Thanh̃ Phong đa đến gia đình chi ̣̃

H để tống đạt các văn bản, chị H và mẹ đẻ chị H là bà Tống Thi ̣ Th đa nhâ ̣̃

n các văn bản của Tòa án, song chi ̣ H không đến Tòa án làm việc. Vì vậy, Tòa án không thể tiến hành hòa giải giữa các đương sự được; đồng thời Tòa án đã phải niêm yết công khai các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật.

* Xác minh tại chính quyền địa phương xác định: anh Cao Văn K và chị Nguyễn Thi ̣ H kết hôn vớ i nhau trên cơ sở tự nguyê ̣n

, đăng ký kết hôn ta ̣i UBND xa Thanh Phong, huyê ̣̃

n Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam ngày 15/9/2001. Sau khi kết hôn , anh chi ̣ chung sống ở thôn DN (nay là thôn TP), xã TP. Anh chi ̣ chung sống hòa thuâ ̣n, hạnh phúc vài năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do anh K làm ăn kinh tế thua lỗ, dẫn đến kinh tế vợ chồng khó khăn, có nhiều xung đột , dần dần tinh cảm la ̣nh nha ̣t . Anh chi ̣ sống ly thân

̀

từ năm 2008 đến nay, không còn quan tâm đến nhau và chấm dứ t mo ̣i quan hê ̣ tình cảm. Hiê ̣n nay, chị H vẫn sinh sống ở đi ̣a phương, còn anh K thườ ng đi làm xa nhà . Nay, anh K xin ly hôn chi ̣ H, đi ̣a phương thấy anh chi ̣ sống ly thân đa ̃ nhiều năm nay, viê ̣c đoàn tu ̣ là không thể, nên đề nghi ̣ Tòa án giải quyết cho anh chị ly hôn theo quy định của pháp luật.

* Tại phiên tòa,

- Ý kiến của Kiểm sát viên:

Về tố tụng: trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật; thực hiện đúng và đầy đủ trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình; bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 147 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội - xử cho ly hôn giữa anh Cao Văn K và chị Nguyễn Thị Hà.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng : căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện của anh Cao Văn K có cơ sở xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn” quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn là chị Nguyễn Thị H hiện cư trú tại xã TP, huyê ̣n TL, tỉnh Hà Nam ; nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Thanh Liêm.

Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do; theo quy định tại Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.

Về quan hê ̣ hôn nhân : hôn nhân giữa anh Cao Văn K và chị Nguyễn Thị H là tự nguyện, hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh chi ̣ chung sống hòa thuâ ̣n , hạnh phúc đ ược vài năm thì phát sinh mâu thuẫn . Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do anh K làm ăn kinh tế thua lỗ , dẫn đến kinh tế vợ chồng khó khăn , có nhiều xung đô ̣t, dần dần tinh cảm la ̣nh nha ̣t . Anh chi ̣ sống ly thân đa nhiều năm̃

̀ nay. Hội đồng xét xử thấy: mâu thuẫn vợ chồng giữa anh Cao Văn K và chị Nguyễn Thi ̣ H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc anh K xin ly hôn chi ̣ H là có căn cứ, phù hợp với thực tế và pháp luật được quy định tại Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: anh Cao Văn K và chị Nguyễn Thị H có 01 con chung là Cao Viê ̣t B - sinh ngày 04/6/2002, hiê ̣n nay cháu B đa trên 18 tuỗ

̉i, học Cao Đẳng và tự lập được ; anh K và chị Hà đều không yêu cầu giải quyết về con chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về tài sản, công nợ, công sức đóng góp, trợ cấp khó khăn sau ly hôn: các đương sự không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: anh Cao Văn K phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Căn cứ khoản 4 Điều 147, các điều 238, 266 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: cho ly hôn giữa anh Cao Văn K và chị Nguyễn ThịH.

2. Án phí ly hôn sơ thẩm: anh Cao Văn K phải chịu tiền án phí sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà anh K đa nô ̣̃ p ta ̣i Chi cu ̣c Thi hành án dân sự huyê ̣n Thanh Liêm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005125 ngày 09/11/2020.

3. Quyền kháng cáo đối với bản án: các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

4. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ