vanban.org

Bản án 09/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2 016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban th ư ờng vụ Quốc Hội.

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Đỗ Văn Q. Về con chung: Công nhận cháu Đỗ Duy K , sinh ngày 28/9/2015 là con chung của chị T và anh Q. Giao cháu K cho chị T trực tiếp nuôi dư ỡng, an h Q không phải cấp d ư ỡng nuôi con chung c ùng chị T . Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án HNGĐ giữa Nguyễn Thị T và Đỗ Văn Q"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2 016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban th ư ờng vụ Quốc Hội.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình giải; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H À TRUNG
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09 /2021/HNGĐ-ST
Ngày: 24-3-2021
V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia
đình

NHÂN DANH

NƯ ỚC CỘNG H

ÒA XÃ HỘI C HỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H À TRUNG, TỈNH THANH HÓA

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thanh Hương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Đông Phong và ông Trần Ngọc Châu.

Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Văn Đức - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện VKSND huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Doãn Thị Luyến - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2021, tại Hội trư ờng xét xử Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 154/2020/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2020 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2021/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 02 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn : Chị Nguyễn Thị T , sinh năm 1991.

Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh T, có mặt.

2. Bị đơn : Anh Đỗ Văn Q, sinh năm 1990.

Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh T, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 01/8/2020 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị T trình bày: Giữa nguyên đơn và bị đơn là anh Đỗ Văn Q tự nguyện tìm hiểu và kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân

xã H, huyện H, tỉnh T ngày 29/12/2014. Vợ chồng chung sống hòa thuận

, hạnh phúc từ khi kết hôn đến năm 201

8 thì phát sinh mâu thuẫn . Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống

, anh Q chơi b ời n ên vợ chồng th ư ờng xuy ên cãi chửi nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đ

ã đư ợc hai bên gia đình hòa giải nh ưng không đoàn t ụ đư ợc . Chị T v à anh Q đã sống ly thân từ tháng 3 năm 2020 cho đến nay, xét thấy tình cảm vợ chồng không c

òn, chị T đề nghị T òa án giải quyết cho chị đ ư ợc ly hôn anh Đỗ Văn Q .

Về con chung : Chị T khai vợ chồng có một con chung,cháu tên là Đỗ Duy K , sinh ngày 28/9/2015, hiện nay cháu K đang ở với chị. C hị T đề nghị đ ư ợc trực tiếp nuôi dư ỡng cháu K, không yêu cầu anh Q phải cấ p dư ỡng nuôi con chung c ùng chị , chị đang l àm giáo viên trư ờng mầm non x ã H, thu nhập h àng tháng khoảng 6.000.000 đồng đủ điều kiện nuôi con.

Về tài sản: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong bản tự khai ngày 20/11/2020 và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Đỗ Văn Q trình bày: Giữa bị đơn và nguyên đơn là chị Nguyễn Thị T tự nguyện tìm hiểu và kết hôn, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân

xã H, huyện H, tỉnh T ngày 29/12/2014. Vợ chồng chung sống hòa thuận

, hạnh phúc từ khi kết hôn đến năm 201 8 thì phát sinh mâu thuẫn . Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống n

ên thư ờng xuy ên cãi chửi nhau . Mâu thuẫn vợ chồng đ

ã đư ợc hai b ên gia đình hòa giải nh ưng không đoàn t ụ đ ư ợc . Anh Q và chị T đã sống ly thân từ tháng 3 năm 2020 cho đến nay , thời gian sống ly thân vợ chồng

không còn quan tâm đến nhau. Nay chị T đề nghị T òa án giải quyết ly hôn, anh Q cũng đồng ý .

Về con chung : Anh Q khai vợ chồng có một con chung, cháu tên là Đỗ Duy K , sinh ngày 28/9/2015, hiện nay cháu K đang ở với chị T. Anh Q

đề nghị đ ư ợc trực tiếp nuôi d ư ỡng cháu K, không y êu cầu chị T phải cấp d ư ỡng nuôi con chung c ùng anh, hiện anh l àm nghề cắt tóc thu nhập h àng tháng khoảng 10 triệu đồng, đủ điều kiện nuôi con .

Về tài sản: Anh Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Quá trình nhận đơn khởi kiện, thụ lý, giải quyết, quyết định đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đ ương sự đã đư ợc thực hiện các quyền của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Chị Thu đề nghị Toà án giải quyết ly hôn với anh Q; đề nghị đư ợc trực tiếp nuôi dư ỡng cháu K, không yêu cầu anh Q phải cấ p dư ỡng nuôi con chung cùng chị là phù hợp với quy địn h tại Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T .

NHẬN ĐỊNH CỦA T

ÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã đư ợc xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Anh Đỗ Văn Q đã đư ợc triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến

để tham gia phiên tòa nhưng v ẫn v ắng mặt m à không có lý do chính đáng, vì vậy Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng

anh Q là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Đỗ Văn Q kết hôn tr ên cơ s ở tự

nguyện, có đăng ký kết hôn, nh ư v ậy l à hôn nhân hợp pháp. Quá tr ình chung sống, vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn dẫn đến vợ chồng thư ờng xuyên cãi chửi nhau. Kết quả xác minh ngày 05/12/2020 có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã H, anh Q và chị T đã sống ly thân từ tháng 3 năm 2020 cho đến nay. Nh ư vậy, trong cuộc sống vợ chồng giữa chị T và anh Q luôn xảy ra mâu thuẫn, xung đột dẫn đến vợ chồng sống ly thân, từ khi ly thân vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, chứng tỏ đời sống chung của vợ chồng đã trở nên trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt đư ợc. Cần căn cứ khoản 1, Điều 56 Luật

hôn nhân và gia đình giải quyết cho chị T đư ợc ly hôn anh Q là phù hợp.

[3]. Về con chung: Chị T và anh Q thừa nhận vợ chồng có 01 con chung, cháu tên là Đỗ Duy K , sinh ngày 28/9/2015. Cả chị T v à anh Q đều có nguyện vọng đư ợc nuôi d ư ỡng cháu K , tuy nhiên từ khi v ợ chồng sống ly thân cháu K

do chị T nuôi dư ỡng , mặt khác cháu K còn nhỏ cần sự chăm sóc của mẹ

, do đó giao cháu K cho chị T trực tiếp nuôi d ư ỡn g, ghi nhận sự tự nguyện của chị T về việc không y

êu cầu anh Q phải cấp d ư ỡng nuôi con chung c ùng chị là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

[4]. Về tài sản: Chị T và anh Q không yêu cầu Toà án giảiquyết, n ên miễn xét.

[5]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

B v

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1, Điều 56; Đ iều 81 ; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Điều 6; khoản 5, Điều 27

Nghị quyết số 326/2 016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban th ư ờng vụ Quốc Hội.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Đỗ Văn Q.

2. Về con chung: Công nhận cháu Đỗ Duy K , sinh ngày 28/9/2015 là con chung của chị T và anh Q. Giao cháu K cho chị T trực tiếp nuôi dư ỡng, an h Q không phải cấp d ư ỡng nuôi con chung c ùng chị T .

Anh Q có quyền , nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai đư ợc cản trở. Anh Q không đư ợc lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hư ởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi d

ư ỡng, giáo dục con của

chị T .

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng ) án phí dân sự sơ thẩm nhưng đư ợc trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) chị T đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/201 9/0009202ngày13/10/2020 tại Chi cụcThi hành án dân sự huyện Hà Trung. Chị T đã nộp đủ án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Chị T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Q có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận đư ợc bản án hoặc bản án đư ợc tống đạt hợp lệ .

Trư ờng hợp bản án đ

ư ợc thi h ành theo Điều 2 Lu ật Thi h ành án Dân sự th ì ngư ời đ ư ợc thi h ành án dân sự, ng ư ời phải thi h ành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền y êu cầu thi h ành án, tự nguyện thi h ành án hoặc bị c ư ỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 v à 9 Luật Thi h ành án Dân sự; thời hiệu thi hành án đư ợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi h

ành án Dân sự. Nơinhận:

Cỡ chữ