vanban.org

Bản án 09/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của ch Trương Th Tuyết L; cho ch Trương Th Tuyết L được ly hôn với anh Nguyễn Minh S.

Về con chung: Chấp nhận yêu cầu nuôi con của ch Trương Th Tuyết L. Không chấp nhận yêu cầu nuôi con của anh Nguyễn Minh S. Buộc anh S Giao cháu Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 14/3/2019 cho ch Trương Th Tuyết L được quyền nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Ch Trương Th Tuyết L không yêu cầu anh Nguyễn Minh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chấp nhận yêu cầu của chị Trương Thị Tuyết L; cho chị Trương Thị Tuyết L được ly hôn với anh Nguyễn Minh S."
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của ch Trương Th Tuyết L; cho ch Trương Th Tuyết L được ly hôn với anh Nguyễn Minh S.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẦU KÈ
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 11-3-2021
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà h m Th M i.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Nam Đừng

Ông Đỗ Thành Tiết

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Th M Hiền, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Đinh Th Mộng Cầm - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 3 năm 2021 t i Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 370/2020/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2010 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử số: 06/2021/QĐXXST- HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ch Trương Th Tuyết L, sinh năm 1988 c m t .

- B đơn: Anh Nguyễn Minh S, sinh năm 1987 (c đơn xin xét xử vắng m t .

C ng đ a chỉ: Ấp 4, x T, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 13 tháng 11 năm 2020 và các lời khai của nguyên đơn là chị Trƣơng Thị Tuyết L trình bày nhƣ sau: Ch L và anh S chung sống với nhau vào năm 2016, có Đ ký kết hôn t i Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Thời gian chung sống với anh S có một người con chung tên Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 14/3/2019, hiện t i cháu Đ đang sống chung với anh S. Sau khi cưới nhau anh ch sống c ng gia đình cha mẹ chồng được khoản 04 tháng thì hai vợ chồng đi làm thuê ở thành phố; đi làm được một thời gian thì ch mang thai, gần đến ngày sinh con hai vợ chồng nghỉ làm về bên cha mẹ chồng ở và sinh con. Sau khi con được khoản 05 tháng tuổi thì hai vợ chồng mang con theo lên thành phố tiếp tục đi làm công ty và thuê người giữ con. Vào khoản tháng 01 năm 2020 hai vợ chồng trở về quê nghỉ và sống c ng cha mẹ chồng, đến ngày tháng 7 năm 2020 thì nhờ cha mẹ chồng chăm s c cháu Đ giúp và gửi tiền về lo cho con. Khoản thời gian hai vợ chồng mẫu thuẫn nghiêm trọng là lúc sống ở thành phố; nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cải trong sinh ho t gia đình, anh S không lo làm ăn, thích chơi cờ b c, anh S thường xuyên đi uống rượu, về đến nhà thì kiếm chuyện chưỡi mắn ch . Ngoài ra, do điều kiện công việc c khi làm tăng ca thêm giờ nên khi về đến nhà thì rất mệt, anh S đòi hỏi chuyện sinh ho t vợ chồng, nếu ch không đáp ứng thì anh S kiếm chuyện chưởi mắng ch , thậm chí anh S còn nhiều lần đánh đập ch . Chính vì vậy mà cuộc sống hôn nhân không còn h nh phúc. Ch cũng đ nhiều lần khuyên bảo, nhường nh n anh S để gìn giữ h nh phúc gia đình và c ng nhau lo cho con nhưng anh S vẫn tính nào tật ấy, không ch u thay đổi. Vì vậy, mâu thuẫn của vợ chồng ngày càng nghiêm trọng nên cả hai đ không còn sống chung nhau từ tháng 10 năm 2020 đến nay. Nay ch L xét thấy không còn tình cảm với anh S nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết:

Về hôn nhân: Ch L yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Minh S.

Về con chung: Ch L yêu cầu nuôi con tên Nguyễn Minh Đ và không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Ch L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Ch L khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Nguyễn Minh S là bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhƣng các lời khai của anh S trình bày nhƣ sau: Anh S thống nhất với lời trình bày của ch L về thời điểm chung sống, c đăng ký kết hôn, con chung và diễn biễn thời gian chung sống là hoàn toàn đúng thực tế. Nguyễn nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường hay cự cải, không hợp nhau; thời gian sau anh cảm nhận được vợ c nhiều thay đổi về tâm tính, anh c tậm sự suy nghỉ của mình nhưng vợ không tiếp thu; hay kể chuyện riêng trong gia đình cho người khác nghe, đi làm về thì kiếm chuyện gây cải với chồng. Do không kiềm chế được nên anh đ tát tay vào m t vợ một lần. Sau lần đánh đ vợ giận nên đ thuê nhà trọ ở riêng, anh không biết đ a chỉ nhà trọ nên đ tìm đến công ty của vợ làm để năn nỉ vợ trở về chung sống nhưng vợ không ch u về; thậm chí còn cấm anh đến công ty tìm và còn đe dọa nếu anh còn đến tìm nữa sẽ c người đánh anh. Đến tháng 10 năm 2020 thì ly thân nhau, anh cố gắng làm đủ ngày để lãnh lương rồi nghỉ làm và trở về quê sống cùng con và cha mẹ ruột. Ở quê ban ngày anh đi làm thuê nên nhờ cha mẹ ruột chăm s c con giúp, chiều hết giờ làm thì về lo cho con. Nay ch L xin ly hôn nên anh có ý kiến như sau:

Về hôn nhân: nh không đồng ý ly hôn, vì còn thương vợ nên xin được đoàn tụ.

Trường hợp Tòa án giải quyết cho ly hôn thì anh yêu cầu như sau:

Về con chung: nh yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung tên Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 14/3/2019 và không yêu cầu ch L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Anh S không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Anh S khai không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của Viện kiểm sát: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng theo quy đ nh của pháp luật. Việc chấp hành của người tham gia tố tụng: Đối với đương sự từ khi thụ lý vụ án các đương sự đã thực hiện đúng các quy đ nh của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Ch L và anh S chung sống với nhau c đăng ký kết hôn nên hôn nhân của anh ch là hôn nhân hợp pháp. Xét thấy, ch L và anh S bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên thường xuyên cự c i, không còn quan tâm nhau nên không thể hàn gắn vì hai bên không thể hòa giải được. Do đ , nếu kéo dài mục đích hôn nhân cũng không đ t được. Do đ , nghĩ nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của ch L; cho ch L được ly hôn với anh S là ph hợp với Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Ch L và anh S đều c yêu cầu được nuôi con, tuy nhiên cháu Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 14/3/2019, còn nhỏ, tính đến ngày 14/3/2021 mới được 02 tuổi nên căn cứ vào khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy đ nh con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng. Đồng thời, ch L đ chứng minh được c đủ điều kiện để nuôi dưỡng con cả về vật chất mức lương ổn đ nh để chi phí ăn, ở sinh ho t.. , lẫn tinh thần được nghỉ ngày chủ nhật hàng tuần, buổi tối được chăm s c và giáo dục con; khi con ốm đau c thời gian nghỉ phép để chăm con chu đáu . Đối với anh S c yêu cầu nuôi con, xét thấy anh S c thu nhập không ổn đ nh làm thuê, ai thuê gì làm nấy , cháu Đ chủ yếu do ông bà nội chăm s c giúp. Do đ , giao con chung tên Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 14/3/2019 cho ch L nuôi dưỡng là ph hợp theo quy đ nh t i các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Về cấp dưỡng nuôi con: Ch L không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Về tài sản chung: không yêu cầu, nợ chung không có nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ c trong hồ sơ vụ án; căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét t i phiên tòa, kết quả tranh tụng t i phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đ nh:

Về tố tụng: Ch L và anh S tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy đ nh t i các Điều 28; 35; 36 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Anh S là b đơn trong vụ án đ được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng anh S c đơn xin vắng m t, căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng m t anh S là ph hợp quy đ nh pháp luật.

Về hôn nhân: Ch L và anh S chung sống với nhau vào năm 2016, có đăng ký kết hôn ph hợp với quy đ nh t i Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình nên hôn nhân của anh ch được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình giải quyết vụ án ch L và anh S cùng thừa nhận do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không nhường nh n nhau, không hòa hợp trong sinh ho t vợ chồng dẫn đến thường xuyên cự cải, thậm chí c xảy ra b o lực gia đình. Tòa án cũng tiến hành xác minh đối với người thân hai bên gia đình anh S và ch L cũng xác đ nh nguyên nhân mâu thuẫn như ch L và anh S khai là đúng. Biết được sự việc mẫu thuẫn giữa ch L và anh S nên người thân của anh ch cũng thuyết phục động viên cho anh ch nhường nh n nhau và cùng đoàn tụ nhưng không c kết quả. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án cũng đ t o điều kiện hòa giải động viên cho ch L và anh S đoàn tụ l i với nhau và c ng nhau chung sống; tuy anh S xin được đoàn tụ nhưng ch L vẫn cương quyết ly hôn vì không thể bỏ qua được những lỗi lầm do anh S gây ra cho ch trong thời gian chung sống. Do đ , Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa ch L và anh S đ trầm trọng, mục đích hôn nhân không đ t được, kéo dài cuộc hôn nhân cũng không c ý nghĩa. Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ch L là c căn cứ.

Về yêu cầu nuôi con, Hội đồng xét xử xét thấy: Cả ch L và anh S đều c yêu cầu được nuôi con chung tên Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 14/3/2019. Tuy hiện nay cháu Đ đang sống c ng anh S nhưng tính đến ngày xét xử cháu Đ chưa tròn 03 tuổi. M c d , cháu Đ hiện t i sống c ng cha nhưng cũng chỉ từ khi ly thân từ tháng 10/2020 cho đến nay, trong khoản thời gian ly thân thì ch L vẫn quan tâm, chăm s c con, gửi chi phí lo cho con, đều này được ông bà nội của cháu Đ là người chăm sóc cháu Đ giúp cho ch L và anh S thừa nhận. Xét về điều kiện kinh tế thì cả ch L và anh S đều đi làm thuê nhưng ch L thu nhập ổn đ nh hơn anh S, cụ thể ch L đ chứng minh được bằng mức lương cụ thể mỗi tháng thu nhập là 10.000.000 đồng và c xác nhận của công ty, làm việc c hợp đồng lao động rõ ràng; còn anh S thì làm nghề tự do, việc làm không ổn đ nh. Ngoài điều kiện về vật chất, thì ch L có đủ điều kiện để sắp sếp thời gian lao động ổn đ nh và thời gian nghỉ ngơi để cho cho con được bình thường. Căn cứ khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình quy đ nh “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nôm, chăm s c, nuôi dưỡng, giáo dục con …”. Từ những phân tích nêu tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy giao cháu Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 14/3/2019 cho ch L được quyền nuôi dưỡng thì vẫn đảm bảo quyền lợi về mọi m t của con và ph hợp với quy đ nh của pháp luật. Do đ , không chấp nhận yêu cầu nuôi con của anh S.

Về cấp dưỡng nuôi con: M c d ch L đ được Hội đồng xét xử giải thích về quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của người trực tiếp nuôi con theo quy đ nh t i Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình nhưng ch L vẫn không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Ch L, anh S không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Ch L, anh S khai không có nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Ch L phải ch u án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy đ nh t i Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 Ngh quyết số 326/2016/UBTVH14 ngày 30/12/2016 quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xét quan điểm của v đ i diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là ph hợp nên được chấp nhận.

Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy đ nh pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 36, 39, 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Ngh quyết số 326/2016/UBTVH14 ngày 30/12/2016 quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của ch Trương Th Tuyết L; cho ch Trương Th Tuyết L được ly hôn với anh Nguyễn Minh S.

Về con chung: Chấp nhận yêu cầu nuôi con của ch Trương Th Tuyết L. Không chấp nhận yêu cầu nuôi con của anh Nguyễn Minh S. Buộc anh S Giao cháu Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 14/3/2019 cho ch Trương Th Tuyết L được quyền nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ch Trương Th Tuyết L không yêu cầu anh Nguyễn Minh S cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không xem xét.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con c quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Người trực tiếp nuôi con c ng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm s c, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Về tài sản chung: Ch Trương Th Tuyết L và anh Nguyễn Minh S không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Ch Trương Th Tuyết L và anh Nguyễn Minh S khai không có nên nên khanh xem xét giải quyết.

Về án phí: Ch Trương Th Tuyết L phải ch u án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền t m ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0003780 ngày 09 tháng 12 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh. Ch Trương Th Tuyết L đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.

Các đương sự c quyền làm đơn kháng cáo trong thời h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng m t t i phiên tòa ho c không có m t khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời h n kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án ho c được tống đ t hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết đ nh được thi hành theo quy đ nh t i Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự c quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án ho c b cưỡng chế thi hành án theo quy đ nh t i các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy đ nh t i Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ