vanban.org

Bản án 09/2021/HNGĐ-ST — Tranh chấp về cấp dưỡng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Ghi nhận sự thỏa thuận của chị Huỳnh Thị Hồng T và anh Nguyễn Minh Th về việc anh Nguyễn Minh Th cấp dưỡng chi phí nuôi con chung Nguyễn Huỳnh Minh A, sinh ngày 29/3/2018 mỗi tháng 2.

Về phương thức cấp dưỡng: Buộc anh Nguyễn Minh Th phải thi hành cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Huỳnh Minh A hàng tháng, bắt đầu cấp dưỡng tính từ tháng 03 năm 2021. Vì lợi ích của con, quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con thực hiện theo quy định tại các điều 84, … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về cấp dưỡng — án hôn nhân và gia đình — "Thiệu - thắm tranh chấp tiền cấp dưỡng nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Ghi nhận sự thỏa thuận của chị Huỳnh Thị Hồng T và anh Nguyễn Minh Th về việc anh Nguyễn Minh Th cấp dưỡng chi phí nuôi con chung Nguyễn Huỳnh Minh A, sinh ngày 29/3/2018 mỗi tháng 2.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP Của Hội đồng Thẩm phán Toà án…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ TIÊN
TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số:09/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 23/02/2021
Về việc: Tranh chấp về
cấp dưỡng nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Đình Đăng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Út.

2. Ông Phan Văn Huy.

- Thư ký phiên toà: Bà Huỳnh Thị Cẩm Tú – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tiên tham gia phiên tòa: Không thuộc trường hợp tham gia phiên tòa.

Ngày 23 tháng 02 năm 2021, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 155/2020/HNGĐ-ST ngày 19 tháng 10 năm 2020, về việc: “Tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 02 năm 2021 giữa các đương sự :

Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Hồng T, sinh năm 1994. (Có mặt)

Địa chỉ: Số 48, ấp R, xã T, thành phố H, tỉnh K.

Bị đơn: Anh Nguyễn Minh Th, sinh năm 1988. (Có mặt)

Địa chỉ: Khu phố 3, phường T, thành phố H, tỉnh K.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Huỳnh Thị Hồng T trình bày: Chị và anh Nguyễn Minh Th có kết hôn và chung sống với nhau được một con chung tên Nguyễn Huỳnh Minh A, sinh ngày 29/3/2018, giới tính nam. Ngày 02/6/2020 chị và anh Nguyễn Minh Th được Tòa án nhân dân thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang giải quyết ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 18/2020/QĐST-HNGĐ.Theo nội dung quyết định thì giao con chung Nguyễn Huỳnh Minh A cho chị trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, chị đảm bảo quyền thăm nom con cho anh Th theo quy định pháp luật. Tại thời điểm đó, chị không yêu cầu anh Th cấp dưỡng chi phí nuôi con chung do nhu cầu sinh hoạt của con chung chưa nhiều.Tuy nhiên,hiện nay các chi phí sinh hoạt, học tập của con chung tăng lên, cụ thể chi phí hàng tháng là: Tiền trường 1.000.000 đồng, tiền sữa là 2.000.000 đồng, tiền tã là 500.000đồng và các chi phí khác trong tháng hơn 3.000.000 đồng. Nhưng thu nhập của chị có khoảng 6.000.000 đồng/tháng, do đó không đáp ứng được việc chi tiêu hàng tháng, đồng thời nhằm gắn kết tình cha con và để anh Th thực hiện nghĩa vụ của người cha, hơn nữa anh Th công tác trong quân đội, thu nhập ổn định khoảng trên 9.000.000đ nên chị yêu cầu anh Th cấp dưỡng chi phí nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

- Tại phiên tòa bị đơn anh Nguyễn Minh Th trình bày: Thừa nhận lời trình bày của chị T về mối quan hệ hôn nhân và con chung như chị T trình bày là đúng. Do hiện nay các chi phí sinh hoạt, học tập của con chung là Nguyễn Huỳnh Minh A, sinh ngày 29/3/2018, tăng lên nên chị T yêu cầu anh cấp dưỡng chi phí nuôi con chung cho con mỗi tháng 2.000.000 đồng, anh hoàn toàn đồng ý mức cấp dưỡng trên.Thu nhập của anh mỗi tháng khoảng 9.300.000đ nhưng do hiện nay hoàn cảnh anh khó khăn, do anh phải nuôi mẹ già ở quê thường bị bệnh, việc cấp dưỡng nuôi con hàng tháng sẽ khó khăn cho kinh tế của anh nên anh yêu cầu được cấp dưỡng nuôi con chung theo phương thức hàng năm (anh sẽ cấp dưỡng vào tháng 11 hàng năm) cho đến khi con đủ 18 tuổi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Chị Huỳnh Thị Hồng T khởi kiện yêu cầu anh Nguyễn Minh Th cấp dưỡng nuôi con chung, anh Th có nơi cư trú tại Khu phố 3, phường T, thành phố H, tỉnh K. Do đó, đây là vụ án về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại khoản 5 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Chị Huỳnh Thị Hồng T và anh Nguyễn Minh Th có kết hôn và chung sống với nhau có được một con chung tên Nguyễn Huỳnh Minh A sinh ngày 29/3/2018, giới tính nam.Ngày 02/6/2020 được Tòa án nhân dân thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang giải quyết công nhận thuận tình ly hôn theo quyết định số 18/2020/QĐST-HNGĐ. Theo nội dung quyết định thì chị T và anh Th thỏa thuận thống nhất giao con chung Nguyễn Huỳnh Minh A cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, chị T đảm bảo quyền thăm nom con cho anh Th theo quy định pháp luật. Tại thời điểm ly hôn chị T không yêu cầu anh Th cấp dưỡng chi phí nuôi con chung. Tuy nhiên, do hiện nay các chi phí sinh hoạt, học tập của con chung tăng lên nhưng thu nhập của chị Th chỉ khoảng 6.000.000 đồng/tháng, do đó không đáp ứng được nhu cầu thiết yếu hàng tháng, trong khi đó thu nhập của anh Th ổn định khoảng 9.000.000đ/ tháng nên chị T yêu cầu anh Th cấp dưỡng chi phí nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh Th đồng ý mức cấp dưỡng chi phí nuôi con chung là 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.Tuy nhiên, anh Th không đồng ý với phương thức cấp dưỡng hàng tháng mà yêu cầu được cấp dưỡng hàng năm (vào tháng 11 hàng năm).

Xét thấy giữa chị T và anh Th đã thỏa thuận được với nhau về mức cấp dưỡng chi phí nuôi con chung là 2.000.000 đồng/tháng nhưng không thống nhất được về phương thức cấp dưỡng.Chị T yêu cầu anh Th cấp dưỡng hàng tháng nhưng anh Th yêu cầu được cấp dưỡng hàng năm. Mặc dù Tòa án đã động viên hòa giải nhiều lần nhưng các bên đương sự vẫn giữ nguyên ý kiến của mình. Căn cứ các Điều 82, 107, 110, 116, 117, 118 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Đồng thời tại điểm c mục 11 của Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định về việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn “Về phương thức cấp dưỡng do các bên thoả thuận định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần. Trong trường hợp các bên không thoả thuận được thì Toà án quyết định phương thức cấp dưỡng định kỳ hàng tháng”, do đó Hội đồng xét xử ghi nhận mức cấp dưỡng theo thỏa thuận của chị T và anh Th đối với con chung Nguyễn Huỳnh Minh A là mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi đủ 18 tuổi, nhưng buộc anh Th phải thi hành cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng và bắt đầu cấp dưỡng từ tháng 03 năm 2021 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Về án phí: Anh Nguyễn Minh Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 5 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào các Điều 82, 107, 110, 116, 117, 118 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ điểm c mục 11 của Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.

- Căn cứ điểm b khoản 1, Điều 12; điểm a, điểm d khoản 6 Điều 27; của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1.Ghi nhận sự thỏa thuận của chị Huỳnh Thị Hồng T và anh Nguyễn Minh Th về việc anh Nguyễn Minh Th cấp dưỡng chi phí nuôi con chung Nguyễn Huỳnh Minh A, sinh ngày 29/3/2018 mỗi tháng 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

2. Về phương thức cấp dưỡng: Buộc anh Nguyễn Minh Th phải thi hành cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Huỳnh Minh A hàng tháng, bắt đầu cấp dưỡng tính từ tháng 03 năm 2021.

Vì lợi ích của con, quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con thực hiện theo quy định tại các điều 84, 116 luật hôn nhân gia đình.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm trả số tiền nêu trên, thì người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án số tiền lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.

3.Về án phí: Anh Nguyễn Minh Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ cấp dưỡng là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng).

Trả lại cho chị Huỳnh Thị Hồng T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003848 ngày 19 tháng 10 năm 2020 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang.

4.Về quyền kháng cáo:Báo cho các đương sự được biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ