- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Tranh chấp bồi thường thiệt hại về sức khỏe"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Bác đơn khởi kiện của bà N.T.H, yêu cầu ông N.V.V và bà D.T.A bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bà gồm tiền tàu xe, tiền ăn cho người bệnh, tiền thangTốc và chẩn đoán hình ảnh, tiền mất thu nhập của người nuôi bệnh, tiền tổn thất về tinh thần và chi phíTê người chở n…
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TRÀ VINH __________________________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2021/DS-ST Ngày: 25-02-2021 V/v: “Tranh chấp bồi thường thiệt hại về sức khỏe”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH
-Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Diệp Hồng Tân
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Dương Văn Đến
Bà Trần Thị Sang
-Thư ký phiên tòa: Bà Kiên Thị Minh Hiếu, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Thòn, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 55/2020/TLST-DS ngày 19 tháng 10 năm 2020 về “Tranh chấp bồi tH thiệt hại về sức khỏe”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2021/QĐXXST-DS, ngày 01 tháng 02 năm 2021, giữa các đương sự.
1. Nguyên đơn: Bà N.T.H, sinh năm 1971 (có mặt)
2. Bị đơn: Ông N.V.V, sinh năm 1978 (có mặt)
Cùng địa chỉ: ấp C, xã T, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Bà H.T.D.M, sinh năm 1993
Người đại diện hợp pháp của bà H.T.D.M: Bà N.T.H, sinh năm 1971.
Cùng địa chỉ: ấp C, xã T, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.
- Bà D.T.A, sinh năm 1977 (có mặt)
- Bà N.T.N.T, sinh năm 2000
Cùng địa chỉ: ấp C, xã T, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.
Người đại diện hợp pháp của bà N.T.N.T: Ông D.V.P, sinh năm 1983 (có mặt)
Địa chỉ: ấp C, xã T, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 28/8/2020 bà N.T.H là nguyên đơn trình bày:
Khoảng 11 giờ 15 phút, ngày 07/7/2020, bà đang điều khiển xe máy đi từ Trường học Đa Lộc sang nhà mới đến đọan đường Tỉnh lộ 911Tộc khu vực ấp C, xã T, huyện Châu Thành thì xảy ra tai nạn do cán vật nuôi thả rông (Chó). Đặc điểm của con chó bà đụng phải là màu đen bóng, trước ngực có đốm màu trắng, trọng lượng khoảng gần 20 kg. Khi chó xông vào xe, bà cán làm cho con chó văng sang lề lộ bên trái nằm sát lề cỏ. Lúc này em N.T.N.T con bà A nói chó của nhà con, bà mới biết con chó gây tai nạn cho bà là của ông V, bà A. Từ điểm đụng đến cửa sau nhà ông V khoảng 6 đến 7 mét. Sau khi tai nạn vừa xảy ra thì có ông Dương Văn C là Công an viên ấp C đi ngang, anh C hỏi con chó nhà ai, em N.T.N.T nói chó nhà con, anh C có động viên hai bên thỏaTận với nhau nhưng không được.
Do bị chấn thương nặng gãy tay bên trái và be sườn nên bà nhập viện điều trị 10 ngày, mới được xuất viện.
Nay bà N.T.H yêu cầu ông N.V.V và bà D.T.A phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bà gồm:
Tiền tàu xe cấp cứu: 200.000 đồng.
Tiền ăn cho người bệnh 150.000đ/ngày x 10 ngày = 1.500.000 đồng.
Tiền thang thuốc và chẩn đoán hình ảnh đã trừ bảo hiểm là 5.520.814 đồng.
Tiền mất thu nhập của người nuôi bệnh H.T.D.M là 200.000đ/ngày x 10 ngày = 2.000.000 đồng.
Tiền tổn thất về tinh thần 3 tháng lương tối thiểu 1.490.000 đồng x 3 tháng = 4.470.000 đồng.
Chi phíTê người chở người bệnh đi làm 50.000đ/ngày x 90 ngày = 4.500.000 đồng.
Cộng chung các khoản là 18.190.814 đồng.
Ông N.V.V là bị đơn trình bày: Ngày 07/7/2020 bà N.T.H đi xe gắn máy ngang nhà ôngTộc ấp C, xã T, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh, thì bị tai nạn (đụng chó), lúc tại nạn xảy ra vợ chồng ông đang ở nhà sau có nghe tiếng xe ngã nên vợ chồng ông mới ra xem thì thấy bà H té xe, ông U đang đở bà H lên, ông không thấy có con chó nào nằm ở xung quanh nơi xảy ra tai nạn mà ông chỉ phụ lo đưa bà H đi cấp cứu. Tại điểm xảy ra tai nạn đến cửa sau nhà ông khoảng 35 mét, còn con chó nhà ông màu đen có pha màu lông vàng và xám, không có đốm trắng ở ngực, trọng lượng khoảng 10 -13 kg. TH ngày chó nhà ông xiềng bằng dây xích ở trong nhà, trước khi xảy ra tai nạn ông có thả cho đi vệ sinh ở phía sau, khi sự việc xảy ra ông không biết con chó của ông ở đâu nhưng khi đưa bà H vào bệnh viện ông trở về thì thấy con chó ở trong nhà không bị thương tích gì cả. Còn con chó bà H đụng, bà H mô tả đặc điểm và trọng lượng không giống con chó của nhà ông.
Nay ông không thống nhất bồi thường thiệt hại cho bà N.T.H.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:
- Bà D.T.A trình bày: Bà hoàn toàn thống nhất với lời trình bày của ông N.V.V, ngoài ra không có ý kiến gì thêm.
- Ông D.V.P trình bày: Sự việc bà H bị tai nạn ông không có chứng kiến mà chỉ nghe ông V, bà A kể lại, còn đặc điểm con chó bà H đụng không giống con chó nhà ông V, bà A nên bà N.T.N.T con bà A không thống nhất bồi thường thiệt hại cho bà H.
Quan điểm của Kiểm sát viên về tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa:
Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử, nhận thấy: Thẩm phán thực hiện đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thủ tục tiến hành hòa giải,T thập chứng cứ, cấp tống đạt các văn bản tố tụng, chuyển hồ sơ cho Viên kiểm sát đúng quy định.
Tại phiên tòa Hội đồng xét xử và Thư ký thực hiện đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các lời khai nhân chứng và diễn biến tại phiên tòa hôm nay, bà H yêu cầu bà A và ông V bồi tH thiệt hại về sức khỏe 18.190.814 đồng, bà khẳng định con chó gây tai nạn cho bà là con chó nhà ông V, bà A. Theo mô tả của bà H về hình dáng và màu sắc con chó bà đụng phải là chó màu đen bóng, trước ngực có đốm trắng, trong lượng gần 20kg, khi bà H đụng, con chó văng sang bên kia lề lộ nằm gần lề cỏ, có bị thương ở ngực. Tại phiên tòa hôm nay bà A, ông V, ông Phong người đại diện hợp pháp của bà N.T.N.T không thừa nhận con chó gây tai nạn cho bà H là chó của nhà ông V, bà A. Vì chó nhà ông V, bà A màu đen bóng có pha màu xám, trọng lượng khoảng 10-13 kg, sau khi bà H bị tai nạn con chó bà A, ông V vẫn còn ở trong nhà, không bị thương tích gì cả, được ông Dương Văn C xác nhận. Từ những phân tích trên nhận thấy, bà H khởi kiện yêu cầu bà A, ông V bồi thường thiệt hại là không có cơ sở chấp nhận.
Căn cứ khoản 6 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 39 Điều 147 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 590, Điều 603 Bộ luật dân sự 2015
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban tH vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Bác đơn khởi kiện của nguyên đơn bà N.T.H.
Bà N.T.H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
Về tố tụng: Các đương sự đều có mặt; căn cứ khoản 1, Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Vụ kiện “Tranh chấp bồi thường thiệt hại về sức khỏe” căn cứ khoản 6 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự,Tộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Tại phiên tòa hôm nay các đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu, không có thay đổi bổ sung, sửa chữa gì thêm.
Nhận thấy, theo lời trình bày của bà N.T.H khoảng 11 giờ 15 phút ngày 07/7/2020 bà điều khiển xe mô tô từ nhà trường Đa Lộc sang nhà mới đi đến khu vực nhà ông V, bà ATộc đoạn đường Tỉnh lộ 911, ấp C, xã T, huyện Châu Thành thì bà cán con chó thả rông gây tai nạn cho bà, đặc điểm của con chó lông màu đen bóng, có đốm trắng ở ngực, trọng lượng khoảng 19 - 20 kg, bà khẳng định con chó bà cán là chó của nhà ông V, bà A, vì sau khi xảy ra tai nạn ông V, bà A xác nhận là chó của ông V, bà A, do bị chấn thương nặng gãy cẳng tay bên trái nên phải nhập viện điều trị 10 ngày. Bà N.T.H yêu cầu ông V, bà A phải có trách nhiệm bồi tH thiệt hại cho bà gồm:
Tiền tàu xe, tiền ăn cho người bệnh, tiền thang thuốc và chẩn đoán hình ảnh, tiền mất thu nhập của người nuôi bệnh là H.T.D.M, tiền tổn thất về tinh thần và chi phíTê người chở người bệnh đi làm, tổng cộng là 18.190.814 đồng.
Tại phiên tòa hôm nay ông N.V.V và bà D.T.A không thống nhất bồi thường thiệt hại cho bà H. Vì con chó gây tai nạn cho bà H không phải chó của ông, bà. Mặc dù trước khi xảy ra tai nạn ông V có thả chó ra cho đi vệ sinh ở sau nhà, nhưng khi ông V đưa bà H vào bệnh viện trở về thì con chó của ông ở trong nhà còn nguyên vẹn, không bị chấn thương hay xây xác gì cả. Con chó của ông V, bà A có đặc điểm màu nâu đen bóng, hai bên màu vàng xám, ngực không có đốm trắng, trọng lượng khoảng 10 đến 13 kg, khác hẳn so với con cho bà H mô tả.
Qua xác minh các hộ dân lân cận và ông Dương Văn C thì được biết nhà ông V, bà A chỉ nuôi 01 con chó, tại thời điểm xảy ra tai nạn có nhiều con chó tụ tập cắn lộn với nhau do đó không xác định được con chó màu đen bóng, ngực có đốm trắng, trong lượng khoảng 19-20 kg là chó của ai.
Xét yêu cầu của bà Nguyễn Thị H là không có cơ sở chấp nhận. Vì khi xảy ra tai nạn bà với gia đình bà không có báo cho chính quyền địa phương và cũng không ghi lại được hình ảnh con chó màu đen bóng, ngực có đốm trắng, trọng lượng 19-20 kg đã gây tai nạn cho bà nằm bên lề lộ bị thương tích. Ngoài ra tại phiên tòa hôm nay bà H cũng không có chứng cứ nào khác để chứng minh con chó gây tai nạn cho bà là con chó của ông V, bà A.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với nội dung vụ án, phù hợp với quy định pháp luật có căn cứ chấp nhận.
Căn cứ Điều 590, Điều 603 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Không chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của bà N.T.H.
Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban tH vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Bà N.T.H không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.
Bởi các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 6 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Áp dụng Điều 590, 603 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Tuyên xử: Bác đơn khởi kiện của bà N.T.H, yêu cầu ông N.V.V và bà D.T.A bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bà gồm tiền tàu xe, tiền ăn cho người bệnh, tiền thangTốc và chẩn đoán hình ảnh, tiền mất thu nhập của người nuôi bệnh, tiền tổn thất về tinh thần và chi phíTê người chở người bệnh đi làm, tổng cộng là 18.190.814 đồng.
Về án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban tH vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Bà N.T.H không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.
Án sơ thẩm xét xử công khai, báo cho các đương sự có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, để xin Tòa án cấp trên xét xử lại phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Trà Vinh; -VKSND huyện Châu Thành; -THADS huyện Châu Thành; -Các đương sự; -Lưu hồ sơ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Dương Văn Đến Trần Thị Sang | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA DIỆP HỒNG TÂN THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Diệp Hồng Tân |