vanban.org

Bản án 09/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 10/03/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phan Văn Kết phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

1 Xử phạt bị cáo Phan Văn K 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt thi hành án. Về án phí: Áp dụng Điều 98, khoản 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ký gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Văn Kết phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK SONG
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2020/HSST
Ngày 10-03-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Phong. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Điểu Nhót và ông Hoàng Minh Hải

- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Thúy Nga – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Hạnh – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 03 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2020/HSST ngày 05 tháng 02 năm 2020, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2020/HSST-QĐ ngày 25 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:

Phan Văn K (tên gọi khác: K Đ), sinh ngày 06 tháng 03 năm 1996 tại tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Thôn M, xã N, huyện P, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: không ổn định; trình độ văn hóa: 10/12; giới tính: Nam; tôn giáo: thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Ngọc Đ, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1975; bị cáo chưa có vợ con; đang bị tạm giam trong vụ án khác - có mặt.

Bị hại: Anh Phạm Văn C, sinh năm 1992. Vắng mặt

Trú tại: Tổ M, TT N, huyện P, tỉnh Đắk Nông.

Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng:

1. Anh Đoàn Văn Tr, sinh năm 1993. Vắng mặt

2. Anh Phạm Văn T, sinh năm 1990. Vắng mặt

3. Anh Phạm Văn N, sinh năm 1991. Vắng mặt

Cùng địa chỉ: Thôn M, xã N, huyện P, tỉnh Đăk Nông

4. Anh Phạm Văn V, sinh năm 1996. Vắng mặt

Địa chỉ: Thôn M, xã N, huyện P, tỉnh Đắk Nông.

5. Anh Đỗ Thành Tr, sinh năm 1990. Vắng mặt

Địa chỉ: Thôn M, xã N, huyện P, tỉnh Đắk Nông

6. Anh Trần Văn H, sinh năm 1995. Có mặt

Địa chỉ: Thôn M, xã N, huyện P, tỉnh Đăk Nông.

7. Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1994. Vắng mặt

8. Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1994. Vắng mặt

Cùng địa chỉ: Tổ M, thị trấn N, huyện P, tỉnh Đắk Nông.

9. Anh Nguyễn Trường L, sinh năm 1993. Vắng mặt

Địa chỉ: Tổ M1, TT N, huyện P, tỉnh Đắk Nông.

10. Anh Trần Thành C, sinh năm 1993. Vắng mặt

Địa chỉ: Tổ M2, TT N, huyện P, tỉnh Đắk Nông.

11. Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm: 1975. Có mặt

Địa chỉ: Thôn M1, xã N, huyện Đăk Song, tỉnh Đăk Nông

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 02/2/2014, Phan Văn K cùng Trần Văn H (Sinh năm: 1995, HKTT: thôn M, xã N, huyện P, tỉnh Đắk Nông); Đỗ Thành Tr (Sinh năm: 1990, tên gọi khác: Tr “H”), Đoàn Văn Tr (Sinh năm: 1993; tên gọi khác: Tr “X”), Phạm Văn T ( Sinh năm: 1990), Phạm Văn N (Sinh năm: 1991) cùng trú tại thôn M, xã N, huyện P, tỉnh Đắk Nông; Phạm Văn V (Sinh năm: 1996, HKTT: Thôn M, xã N, huyện P, tỉnh Đắk Nông ) và H (chưa rõ nhân thân lại lịch) đi hát karaoke tại quán “T H K” thuộc tổ M, Thị trấn N, huyện P, tỉnh Đắk Nông. Cùng lúc này Nguyễn Văn H (Sinh năm: 1994; tên gọi khác H “H”), Nguyễn Văn H (Sinh năm: 1994) cùng trú tại tổ M, Thị trấn N, huyện P, tỉnh Đăk Nông; Nguyễn Phú N (Sinh năm:1991, tên gọi khác: N “H Đ”), Th, Tr và T (chưa rõ nhân thân, lại lịch) cũng rủ nhau đi hát tại quán “T H K” nhưng do hết phòng hát nên nhóm này đi sang tiệm vi tính A bên cạnh đứng nói chuyện và đợi phòng hát. Một lúc sau, K và H đi từ trong phòng hát ra trước cửa quán. Do quen biết với H “H” nên K, H đi qua nói chuyện với nhóm của H “H” thì xảy ra xích mích giữa K và Tr dẫn đến Tr đấm K 01 phát vào mặt, K cũng đấm lại Tr 01 phát vào mặt thì được mọi người can ngăn. Thấy K bị đánh, H chạy vào phòng hát gọi những người trong phòng gồm có Tr “H”, Tr “X”, T, V, H chạy ra, xô xát, đuổi đánh nhau với nhóm H “H”, N, Th, T, Tr. Trong quá trình xô xát, V bị một số người bên nhóm H “H” dùng tay chân, gạch đánh vào người, vùng đầu gây chảy máy. Nhóm của K lấy các vỏ chai bia Sài Gòn bằng thủy tinh để trước quán “T H K” và nhặt gạch đá đuổi ném về phía nhóm của H “H”. Nhóm của H “H” bỏ chạy tới bến xe huyện Đăk Song thì nhóm của K không đuổi nữa, quay lại tiệm vi tính A. Khi cả nhóm K đang bàn bạc nhau đưa V đi bệnh viện khâu vết thương thì K thấy có một vỏ chai bia Sài Gòn bằng thủy tinh (đã bị bể vỡ phần thân, đít) ở dưới nền đất nên K nhặt vỏ chai này cầm trên tay. Lúc này, Nguyễn Trường L (Sinh năm:1993, HKTT: tổ M, Thị trấn N, huyện P, tỉnh Đắk Nông) điều khiển xe máy chở Trần Thành C (Sinh năm:1993, HKTT: Tổ M1, Thị trấn N, huyện P, tỉnh Đắk Nông) và Phạm Văn C (Sinh năm 1991, HKTT: Tổ M2, Thị trấn N, huyện P, Đăk Nông) từ hướng xã N đến dừng ngay trước lề đường tiệm vi tính A nơi nhóm của Kết đang đứng. Do tưởng C và C đến giúp sức cho nhóm của Tr nên Tr “H” cầm một vỏ chai bia trên tay đi lại nói chuyện với C, C. K đi lại ngồi ngay phía sau Tr “H”, trên tay K vẫn đang cầm vỏ chai bia bị bể vỡ thân đít. Khi nghe Tr “H” hỏi C: “Tại sao tụi mày đánh em tao” thì K nghĩ rằng C cùng phe với nhóm của H “H” đánh mình lúc nãy nên K bực tức đứng dậy cầm vỏ chai bia Sài Gòn xông đến phía trước, tiến sát đối diện với C đang đứng và dùng vỏ chai bia bị bể vỡ sắc nhọn đâm một phát trúng vào vùng bẹn phải của C gây thương tích. C bỏ chạy về phía bến xe huyện P và không ai đuổi đánh C nữa. C được C, L đưa đến bệnh viện đa khoa huyện P cấp cứu, rồi được chuyển lên bệnh viện đa khoa tỉnh Đắk Nông và Bệnh viện Chợ Rẫy điều trị tiếp.

Ngày 05/3/2014, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đăk Song đã trưng cầu giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Phạm Văn C. Tại bản giám định pháp y số 95/GĐPY-BVT ngày 21/3/2014 của Phòng giám định pháp y thuộc Bệnh viện đa khoa tỉnh Đăk Nông kết luận: Phạm Văn C bị vết thương động mạch đùi phải. Tỷ lệ thương tật toàn bộ là 15% (mười lăm phần trăm) sức khỏe.

Tại bản cáo trạng số 11/CTr-VKS ngày 31/01/2020, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song đã truy tố bị cáo Phan Văn K về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” và đề nghị HĐXX áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 90, 91 BLHS xử phạt bị cáo Phan Văn K từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

* Về xử lý vật chứng

Đối với 01 vỏ chai bia Sài Gòn bằng thủy tinh bị bể vỡ phần thân, đít chai mà Phan Văn Kết dùng để đâm anh Phạm Văn C gây thương tích: sau khi thực hiện hành vi phạm tội, trên đường đi về xã N, huyện P, tỉnh Đắk Nông, Phan Văn K đã vứt vỏ chai bia này xuống đường nhưng không nhớ rõ vị trí, khu vực nào nên không truy tìm được.

Về phần trách nhiệm dân sự:

Anh Phạm Văn C có đơn không yêu cầu Phan Văn K bồi thường nên không đề cập tới.

Tại phiên tòa bị cáo không bào chữa gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Khoảng 22 giờ ngày 02 tháng 02 năm 2014, tại tổ dân phố M, Thị trấn N, huyện P, tỉnh Đăk Nông, do có mâu thuẫn giữa nhóm của K và nhóm của H H trước đó nên khi anh Phạm Văn C cùng 02 người khác đến, K nghĩ rằng anh C đến để đánh nhau nên Phan Văn K đã dùng 01 vỏ chai bia Sài Gòn bị bể vỡ sắc nhọn là hung khí nguy hiểm đâm một phát trúng vào vùng bẹn phải của anh C gây tỷ lệ thương tật toàn bộ là 15% sức khỏe. HĐXX xét thấy đã có đủ cơ sở pháp lý kết luận hành vi nêu trên của bị cáo đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của BLHS.

Mặc dù bị cáo thực hiện hành vi phạm tội tại thời điểm Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 đang có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, so sánh quy định giữa Khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 và điểm đ Khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì không có sự khác biệt về tỷ lệ tổn thương cơ thể nhưng mức hình phạt áp dụng quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có lợi hơn cho bị cáo. Do đó, cần áp dụng Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để xử lý đối với bị cáo theo quy định của pháp luật.

Điều 134 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

….

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

a) …

…

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

3…”

Việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông truy tố bị cáo Phan Văn Kết về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Xét tính chất, mức độ hành vi của bị cáo gây ra là nghiêm trọng, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác. Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được sức khỏe của con người được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, người nào có hành vi xâm hại đến sức khỏe của người khác thì bị pháp luật trừng trị nghiêm minh, bị cáo đã dùng vỏ chai bị bị vỡ sắc nhọn đâm một phát trúng vào vùng bẹn phải của anh Phạm Văn C. HĐXX xét thấy cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo thành công dân tốt, biết tôn trọng pháp luật, đồng thời răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.

. Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Phan Văn K đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại là anh Phạm Văn C số tiền 11 triệu đồng (mười một triệu đồng). Do đó, bị cáo Phan Văn K được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Khi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên, bị cáo mới 17 tuổi 10 tháng 28 ngày nên cần áp dụng quy định tại các Điều 90, 91 BLHS khi quyết định hình phạt.

. Về vật chứng vụ án: Đối với 01 vỏ chai bia Sài Gòn bằng thủy tinh bị bể vỡ phần thân, đít chai mà Phan Văn K dùng để đâm anh Phạm Văn C gây thương tích: sau khi thực hiện hành vi phạm tội, trên đường đi về xã N, huyện P, tỉnh Đắk Nông, Phan Văn K đã vứt vỏ chai bia này xuống đường nhưng không nhớ rõ vị trí, khu vực nào nên không truy tìm được.

Về phần trách nhiệm dân sự: Anh Phạm Văn C có đơn không yêu cầu Phan Văn K bồi thường nên không đề cập giải quyết.

. Xét mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp nên cần chấp nhận.

. Trong vụ án còn có một số vấn đề sau:

Đối với thương tích của Phạm Văn Vượng và Phan Văn K: quá trình điều tra, V và K đã có đơn từ chối giám định thương tích và không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, do đó không đặt vấn đề xử lý.

Đối với việc: Đỗ Thành Tr (tên gọi khác: Tr “H”) cầm vỏ chai bia đến nói chuyện với nhóm của anh Phạm Văn C: Tr “H” đến và chỉ hỏi chuyện C chứ không hô hào hay xúi giục Phan Văn K gây thương tích cho C, hành vi của Phan Văn K là bột phát, không tiếp nhận về mặt ý chí của người khác, do đó, không đặt ra vấn đề xử lý đối với Đỗ Thành Tr.

Đối với hành vi đánh nhau, gây rối trật tự công cộng của các đối tượng Phan Văn K, Trần Văn H, Đỗ Thành Tr, Đoàn Văn Tr, Phạm Văn T, Phạm Văn V với nhóm đối tượng Nguyễn Văn H (H “H”), Nguyễn Văn H, Nguyễn Phú Th, Trự và T (chưa rõ nhân thân, lai lịch): xét thấy vụ việc chưa gây hậu quả nghiêm trọng, do đó hành vi đánh nhau, gây rối của các đối tượng này chưa đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thương tích và gây rối trật tự công cộng được quy định trong Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009. Tuy nhiên hành vi của các đối tượng đã vi phạm theo điểm a, điều 5 Nghị định 167/2013/NĐCP ngày 13/11/2013 của Chính Phủ, nhưng tính đến nay đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính, vụ việc này tuy có liên quan tiếp diễn đến hành vi phạm tội của Phan Văn K nhưng là một vụ việc tách biệt, không ảnh hưởng đến việc điều tra, truy tố, xét xử Phan Văn K. Do đó, cơ quan CSĐT Công an huyện Đăk Song đã tách ra, xử lý theo quy định của pháp luật.

. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Phan Văn Kết phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 90; Điều 91 BLHS.

1.1 Xử phạt bị cáo Phan Văn K 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 98, khoản 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo cáo Phan Văn K phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niên yết hoặc tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ