- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Thái T phạm tội "Làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức" - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu,…"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự Tịch thu tiêu hủy; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2020/HS-ST Ngày 25-02-2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Lanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lục Văn Vãn; Bà Vũ Thị Hòa
Thư ký phiên toà: Ông Lương Thế Trung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hải Bằng - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 13/2020/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2020/QĐXXST- HS ngày 05 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo.
Họ và tên: Hoàng Thái T - Sinh ngày 19 tháng 8 năm 1995 tại huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn K, xã Đ, huyện V, tỉnh Yên Bái
Nơi đăng ký tạm trú: Tổ 13, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai;
Nghề nghiệp: Sinh viên; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn X và bà Trần Thị T. Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Thùy A và 01 con. Tiền án: Không; Tiền sự: Không;
Bị cáo đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú “Có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ đầu tháng 12/2018 đến cuối tháng 02/2019, Hoàng Thái T đã thông qua mạng xã hội Facebook mua giấy khám sức khỏe giả, sau đó dán ảnh, đóng dấu giáp lai giả vào ảnh rồi bán kiếm lời cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Đầu tháng 12/2018, Hoàng Thái T đã mua Giấy khám sức khỏe giả, nơi cấp Công ty cổ phần bệnh viện giao thông vận tải cấp, trên khổ giấy A3, phần nội dung khám bệnh đã có sẵn kết quả và chữ ký của các bác sỹ của bệnh viện, mục thông tin người khám bệnh được để trống, tại các mục khám bệnh đã có sẵn kết quả và chữ ký của các bác sỹ, được kết luận bới bác sỹ chuyên khoa 1 Nguyễn Thị Cúc và đóng dấu tròn của Công ty cổ phần bệnh viện giao thông vận tải của nick Facebook “Thanh Hường” có số điện thoại 0964210182 (mua số lượng bao nhiêu Thọ không nhớ) với giá một tờ là 200.000 đồng. Sau khi mua được giấy khám sức khỏe giả Hoàng Thái T rao bán trên mạng xã hội Facebook bằng nick “Bạch Dương” và “Master Thọ” thông qua trang Facebook “Chợ trời Lào Cai”. Khi có người hỏi mua thì Hoàng Thái T yêu cầu người mua gửi ảnh chụp chân dung và ảnh chụp chứng minh nhân dân qua mạng xã hội Zalo đăng ký bằng số điện thoại 0833355190. Sau đó Hoàng Thái T đi rửa ảnh và dán vào giấy khám sức khỏe giả bán một tờ giấy khám sức khỏe giả với giá là 250.000 đồng
Lần thứ hai: Cuối tháng 01/2019, có một người nam giới gọi bằng số điện thoại 0395566981 vào số điện thoại 0833355190 của Hoàng Thái T hỏi có mua Giấy khám sức khỏe giả với giá một tờ là 30.000 đồng, T đã đồng ý và mua 50 tờ Giấy khám sức khỏe giả nơi cấp Công ty cổ phần bệnh viện giao thông vận tải cấp. Sau khi mua được giấy khám sức khỏe giả Hoàng Thái T rao bán trên mạng xã hội Facebook bằng nick “Bạch Dương” và “Master Thọ” thông qua trang Facebook “Chợ trời Lào Cai”. Do người mua Giấy khám sức khỏe giả yêu cầu phải đóng dấu giáp lai vào ảnh trên giấy khám sức khỏe, nên T đã thông qua mạng xã hội Facebook tìm được một số điện thoại của một người nam giới (không nhớ số điện thoại và nic Facebook và không biết họ, tên, địa chỉ cụ thể) mua con dấu giả với nội dung khi đóng dấu là “Công ty cổ phần bệnh viện giao thông vận” với giá 300.000 đồng. Hoàng Thái T nhận được con dấu giả được mài khuyết một phần bằng hình thức hàng chuyển phát nhanh (nhận hàng, thanh toán tiền) người gửi ghi “Khắc dấu mẹ Bông” có số điện thoại 0389250049. Sau đó Hoàng Thái T tiếp tục rao bán giấy khám sức khỏe giả trên mạng xã hội Facebook bằng nic “Bạch Dương” và “Master Thọ” với giá 250.000 đồng một tờ.
Lần thứ ba: Cuối tháng 02/2019, trên mạng xã hội Facebook có nick “Hải Yến” số điện thoại 0346552878 đã liên hệ với Hoàng Thái T nói bán giấy khám sức khỏe giả với giá một tờ là 30.000 đồng, Hoàng Thái T đồng ý và mua của người này 200 tờ Giấy khám sức khỏe giả nơi cấp Công ty cổ phần bệnh viện giao thông vận tải cấp. Sau khi mua được giấy khám sức khỏe giả Hoàng Thái T tiếp tục rao bán trên mạng xã hội Facebook bằng nick “Bạch Dương” và “Master Thọ” thông qua trang Facebook “Chợ trời Lào Cai” với giá 250.000 đồng một tờ, thì có chị Châu Thị L (sinh năm: 1999, nơi cư trú: thôn T, xã P, huyện B, tỉnh Lào Cai); chị Hà Thị K (sinh năm: 1995, nơi cư trú: thôn A, xã L, huyện V, tỉnh Lào Cai); anh Sìn Văn K (sinh năm: 1999, nơi cư trú: thôn T, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai); anh Trang Văn H (sinh năm: 1996, nơi cư trú: thôn T, xã B, huyện , tỉnh Lào Cai); chị Lê Thị C (sinh năm: 1996, nơi cư trú: thôn P, xã P, huyện B, tỉnh Lào Cai) đặt mua. Hoàng Thái T đã rửa ảnh của những người này (được gửi qua ứng dụng Zalo) dán vào giấy khám sức khỏe, đóng dấu giáp lai giả. Đến ngày 07/03/2019, khi T đang đi bán Giấy khám sức khỏe giả cho những người đã đặt mua ở trên thì bị Cơ quan điều tra An ninh Công an tỉnh Lào Cai bắt quả tang. Ngoài ra còn thu giữ tại phòng trọ của Hoàng Thái T 237 tờ giấy khám sức khỏe nơi cấp Công ty cổ phần bệnh viện giao thông vận tải.
Tại Bản kết luận giám định số 13/GĐTL ngày 12/04/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận:
1. Các dấu hình tròn có nội dung “Công ty cổ phần bệnh viện giao thông vận tải” trên các tài liệu ký hiệu từ A1 đến A7 với hình dấu tròn có cùng nội dung trên mẫu so sánh không phải do cùng một con dấu đóng ra. Các hình dấu tròn này được đóng ra từ các con dấu khác (2 con dấu).
2. Hình dấu tròn có nội dung “Công ty cổ phần bệnh viện giao thông vận tải” (khuyết ¼ dưới) trên tài liệu ký hiệu A8 với hình dấu tròn có cùng nội dung trên mẫu so sánh không phải do cùng một con dấu đóng ra.
3. Chữ ký: Các chữ ký trên các tài liệu ký hiệu từ A1 đến A7 đều là chữ ký trực tiếp.
3.1. Chữ ký dưới mục “Người kết luận” mang dấu tên BSCKI Nguyễn Thị Cúc trên các tài liệu ký hiệu từ A1 đến A7 với chữ ký mang tên Nguyễn Thị Cúc trên mẫu so sánh M1 không phải do cùng một người ký ra.
3.2. Chữ ký mang dấu tên BSCKI Nguyễn Kim Minh trên các tài liệu ký hiệu từ A1 đến A7 với chữ ký mang tên Nguyễn Kim Minh trên mẫu so sánh M2 không phải do cùng một người ký ra.
3.3. Chữ ký mang dấu tên BSCKI Nguyễn Đình Thái trên các tài liệu ký hiệu từ A1 đến A7 với chữ ký mang tên Nguyễn Đình Thái trên mẫu so sánh M3 không phải do cùng một người ký ra.
3.4. Chữ ký mang dấu tên BS Hà Thị Thanh Hương trên các tài liệu ký hiệu từ A1 đến A7 với chữ ký mang tên Hà Thị Thanh Hương trên mẫu so sánh M4 không phải do cùng một người ký ra.
3.5. Chữ ký mang dấu tên BSCKI Đặng Thanh Huyền trên các tài liệu ký hiệu từ A1 đến A7 với chữ ký mang tên Đặng Thanh Huyền trên mẫu so sánh M5 không phải do cùng một người ký ra.
Tại Bản kết luận giám định số 15/GĐTL ngày 02/05/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận:
1. Các dấu hình tròn có nội dung “Công ty cổ phần bệnh viện giao thông vận tải” trên các tài liệu ký hiệu từ A9 đến A243 với hình dấu tròn có cùng nội dung trên mẫu so sánh không phải do cùng một con dấu đóng ra. Các hình dấu tròn này được đóng ra từ các con dấu khác (2 con dấu).
2. Chữ ký: Các chữ ký trên các tài liệu ký hiệu từ A9 đến A243 đều là chữ ký trực tiếp.
2.1. Chữ ký dưới mục “Người kết luận” mang dấu tên BSCKI Nguyễn Thị Cúc trên các tài liệu ký hiệu từ A9 đến A243 với chữ ký mang tên Nguyễn Thị Cúc trên mẫu so sánh M1 không phải do cùng một người ký ra.
2.2. Chữ ký mang dấu tên BSCKI Nguyễn Kim Minh trên các tài liệu ký hiệu từ A9 đến A243 với chữ ký mang tên Nguyễn Kim Minh trên mẫu so sánh M2 không phải do cùng một người ký ra.
2.3. Chữ ký mang dấu tên BSCKI Nguyễn Đình Thái trên các tài liệu ký hiệu từ A9 đến A243 với chữ ký mang tên Nguyễn Đình Thái trên mẫu so sánh M3 không phải do cùng một người ký ra.
2.4. Chữ ký mang dấu tên BS Hà Thị Thanh Hương trên các tài liệu ký hiệu từ A9 đến A243 với chữ ký mang tên Hà Thị Thanh Hương trên mẫu so sánh M4 không phải do cùng một người ký ra.
2.5. Chữ ký mang dấu tên BSCKI Đặng Thanh Huyền trên các tài liệu ký hiệu từ A9 đến A243 với chữ ký mang tên Đặng Thanh Huyền trên mẫu so sánh M5 không phải do cùng một người ký ra.
Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Thái T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình
Cáo trạng số 134/CT-VKS-TPLC ngày 28/11/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố bị cáo Hoàng Thái T về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm c khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai giữ quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh theo bản cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất mức độ thực hiện hành vi của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 341; Điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 65 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Hoàng Thái T phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Xử phạt bị cáo Hoàng Thái T mức án từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 năm. Không phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01con dấu giả loại dấu đóng dập; 236 tờ giấy khám sức giả nơi cấp Công ty cổ phần bệnh viện giao thông vận tải.
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước của Hoàng Thái T 01điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s, màu vàng trắng, bên trong lắp 01 sim Vinaphone; tạm giữ 200.000 đồng để đảm bảo thi hành án; trả lại cho bị cáo 1.025.000 đồng
Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh Lào Cai,Cơ quan điều tra Công an thành phố Lào Cai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo Hoàng Thái T: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận tội, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, tang vật thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã xác định được: Hoàng Thái T thông qua mạng xã hội Facebook đã mua giấy khám sức khỏe giả, nơi cấp Công ty cổ phần bệnh viện giao thông vận tải cấp, trên khổ giấy A3, phần nội dung khám bệnh đã có sẵn kết quả và chữ ký của các bác sỹ của bệnh viện, mục thông tin người khám bệnh được để trống, sau đó dán ảnh, đóng dấu giáp lai giả vào ảnh rồi bán kiếm lời. Ngày 07/03/2019 bị cáo T đã dán ảnh, đóng dấu giáp lai giả vào ảnh cho các đối tượng đặt mua là Châu Thị L, Hà Thị K, Sìn Văn K, Trang Văn H, Lê Thị C, khi T đang đi bán cho những người này thì bị Cơ quan điều tra An ninh Công an tỉnh Lào Cai bắt quả tang thu giữ toàn bộ 05 tờ giấy khám sức khỏe giả này. Kiểm tra thu giữ tại phòng trọ của Hoàng Thái T 237 tờ giấy khám sức khỏe giả nơi cấp Công ty cổ phần bệnh viện giao thông vận tải. Như vậy bị cáo Hoàng Thái T có hành vi mua giấy khám sức khỏe giả (phôi giả) sau đó dán ảnh, đóng dấu giả lên ảnh bán lại cho những người có như cầu mua giấy khám sức khỏe giả. Ngày 07/3/2019 Hoàng Thái T bị bắt quả tang khi mang 05 giấy khám sức khỏe giả đã dán ảnh đi bán cho các đối tượng đặt mua. Khám xét nơi ở của Hoàng Thái T thu giữ 237 tờ giấy khám sức khỏe giả (chưa dán ảnh). Bị cáo đã mua giấy khám sức khỏe giả nhưng không xác định bị cáo mua số giấy tờ, tài liệu của ai nên phải chịu trách nhiệm về toàn bộ số tài liệu giấy tờ này. Cáo trạng số 134/CT-VKS-TPLC ngày 28/11/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai đã truy tố bị cáo Hoàng Thái T về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm c khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự (đối với 05 giấy tờ, tài liệu giả). Tại quyết định số 01/2020/HSST-QĐ ngày 17/01/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai trả hồ sơ cho Viện kiểm sát đề nghị truy tố Hoàng Thái T về tội “Làm giải tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo Điểm a Khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự. Tại văn bản số 45/CV-KSĐT ngày 21/01/2020 giữ nguyên quan điểm truy tố. Căn cứ khoản 1 điều điều 298 của bộ luật tố tụng hình sự quy định giới hạn của việc xét xử, tòa án nhân dân thành phố Lào Cai xét xử bị cáo về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm c khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính nhà nước, gây khó khăn trong công tác quản lý, điều hành của cơ quan quản lý hành chính nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương, vì vậy cần phải xét xử một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo sau khi phạm tội tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cải, có ông nội được tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhì vì vậy cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy đinh tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có
Về biện pháp chấp hành hình phạt: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, đang theo học tại Trường cao đẳng sư phạm tỉnh Lào Cai, có nơi cư trú rõ ràng, được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 của Bộ luật Hình sự. Căn cứ vào điều 65 của Bộ luật Hình sự, hướng dẫn tại nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét thấy cần cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 341 của Bộ luật hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, bị cáo đang là sinh viên nên không có tài sản, thu nhập gì. Vì vậy Hội đồng xét xử định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 chùm chìa khóa, 01 chiếc xe mô tô Honda Airblade, màu trắng biển kiểm soát 24B1-985.94, 01 đăng ký xe mô tô, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe mô tô đều mang tên Nguyễn Thị Thùy A; 01 thẻ ATM của Ngân hàng Vietcombank, 01 thẻ ATM của Ngân hàng BIDV, 01 thẻ ATM của Ngân hàng Vietinbank đều mang tên Hoàng Thái T đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp.
Đối với 01con dấu loại dấu đóng dập; 236 tờ giấy khám sức khỏe nơi cấp Công ty cổ phần bệnh viện giao thông vận tải là con dấu và giấy tờ giả cần tiêu hủy;
Đối với 01điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s, màu vàng trắng, bên trong lắp 01 sim Vinaphone thu giữ của Hoàng Thái T, đây là chiếc điện thoại bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước; Đối với số tiền 1.225.000 đồng thu giữ của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội trả cho bị cáo sau khi tạm giữ 200.000 đồng để đảm bảo thi hành án khoản tiền án phí.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:
Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 341; Điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 65 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Hoàng Thái T phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Xử phạt bị cáo Hoàng Thái T 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (Năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai theo dõi, giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, làm việc thì thực hiện theo quy định tại Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.
Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách của án treo: “Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
Tịch thu tiêu hủy: 01con dấu giả loại dấu dập được niên phong trong hộp catton hình chữ nhật có kích thước (12,5 x6,8x6), bên ngoài được dán bằng giấy màu trắng, tại các mép dán có chữ ký của người tham gia niên phong và 236 tờ giấy khám sức giả khỏe nơi cấp Công ty cổ phần bệnh viện giao thông vận tải.
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước của Hoàng Thái T 01điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s, màu vàng trắng, bên trong lắp 01 sim Vinaphone được niêm phong trong 01 bì thư của Công an thành phố Lào Cai, mặt trước bì thư có ghi “Điện thoại thu giữ của Hoàng Thái T ngày 29/3/2019”, mặt sau có 04 chữ ký của người tham gia niêm phong và 02 dấu tròn đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Lào Cai
Số tiền 1.225.000 đồng thu giữ của Hoàng Thái T được niên phong gửi tại kho bạc nhà nước Lào Cai. Trong đó tạm giữ 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng) để đảm bảo thi hành án; trả lại cho bị cáo Hoàng Thái T 1.025.000 đ (Một triệu không trăm hai mươi lăm nghìn đồng)
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Hoàng Thái T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh, TP; - Cơ quan điều tra CATP - Cơ quan THAHS - Sở tư pháp; - UBND phường B - Bị cáo; - T.H.A DS; - Lưu | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Tuyết Lanh |