- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vàng Chỉn Th - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Giao bị cáo Vàng Chỉn Th cho UBND xã P, huyện V, tỉnh Hà Giang và gia đình nơi bị cáo cư trú cùng giám sát, giáo dục bị cáo Th.
- Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H TỈNH HÀ GIANG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2020/HS-ST Ngày 06 tháng 04 năm 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH HÀ GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Sùng Thị Mai
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông : Nguyễn Văn Phiến
2. Ông: Mai Xuân Thẩm
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Kiên - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Hà Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hải Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 04 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Hà Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số: 09/2020/TLST - HS ngày 20 tháng 03 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 06/2020/QĐXXST- HS ngày 23 tháng 03 năm 2020 đối với bị cáo: Vàng Chỉn Th; sinh ngày 18 tháng 9 năm 1980, tại huyện V, tỉnh Hà Giang; Nơi cư trú: Thôn L, xã P, huyện V, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: không biết chữ; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vàng Mí P - sinh năm: 1950, con bà Thèn Thị D - sinh năm: 1951; có vợ là Lý Thúy H - sinh năm:1981; có 02 con, lớn nhất 21 tuổi, nhỏ nhất 3 tuổi; tiền án: Không, tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2016 bị Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Hà Giang xử phạt 9.000.000đ( Chín triệu đồng)và án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ( Hai trăm nghìn đồng) về tôi đánh bạc, Th đã chấp hành xong hình phạt năm 2016, hiện đã được xóa án tích. có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 15 giờ ngày 23/01/2020, Vàng Chỉn Th điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDAVISION, màu sơn nâu, biển kiểm soát 23H1-085.61 Là xe của Lý Thúy H( SN 1983 trú tại thôn L , xã P, huyện V , tỉnh Hà Giang), là vợ Th đi từ nhà đến khu vực ngã ba đường bê tông liên thôn, thuộc thôn L, xã P, huyện V, tỉnh Hà Giang( gần chợ P) với mục đích tìm mua cành đào về chơi tết, khi Th đang ngồi trên yên xe để xem cành đào thì có một người đàn ông (khoảng 40 tuổi, hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch) vác trên vai một thùng bìa cát tông, tay phải cầm một túi nilon màu đen đi đến vị trí của Th rồi nó “ em có ít hàng, anh chở giúp em ra thành phố H”, Th nhìn người này rồi hỏi “ hàng gì”, người đàn ông trả lời “ pháo hoa” Th nói “hàng cấm không chở đâu”, người đàn ông nói “ anh chở giúp em đi, em trả anh một triệu”, Th không nói gì xuống xe cùng người này đi về hướng đường bê tông chỗ vắng người. Tại đây người này mở thùng bìa cattông và túi nilon màu đen ra, Th nhìn thấy bên trong có nhiều hộp pháo. Th đồng ý và hỏ “chở lúc mấy giờ, ra chỗ nào Hà Giang”, người đàn ông nói “ anh chở ra lúc 8 giờ sáng mai, chỗ cầu gạc đì, sẽ có người đến nhận và trả tiền công cho anh” . Giao dịch xong người đàn ông lấy số điện thoại di động của Th số 0366.867.778 để liên lạc giao nhận hàng, rồi cả hai quay lại chỗ dựng xe mô tô, Th ngồi lên xe nổ máy, người đàn ông đưa chiếc túi nilon màu đen cho Th để ở vị trí để chân phía trước, và đặt thùng bìa cát tông lên yên xe phía sau. Th điều khiển xe trở số pháo trên đi thẳng về nhà tại thôn L, xã P, huyện V, tỉnh Hà Giang. Về đến nhà sợ bị phát hiện, Th Đã cất dấu số pháo trên ở chiếc xe cải tiến để trong chuồng bò của gia đình rồi lấy chiếu cũ phủ lên trên. Đến khoảng 7 giờ 30 phút ngày 24/01/2020, Th lấy số pháo đen đi giao như đã hẹn. Do sợ bị phát hiện, Th chỉ lấy pháo đựng trong túi nilon màu đem đen giao trước nếu trót lọt sẽ quay về nhà trở tiếp, Th để tui pháo ở vị trí để chân phía trước của xe mô tô nhãn hiệu HONDAVISION(cũng là xe hôm 23/01/2020 Th sử dụng đi chở pháo), khi đến khu vức dốc ba khoanh đường P(thuộc tổ 03, phường Q, thành phố H), Th dừng xe đi vệ sinh, đồng thời lấy túi pháo đặt xuống bãi đất trống vên đường tránh bị phát hiện và đợi xem có ai gọi điện thoại cho không. Đợi khoảng 15 phút sau thấy không có ai liên lạc, Th định đi tiếp ra cầu Gạc đì, thì bị lực lượng công an Phường Q phát hiện kiểm tra, Th để lại phương tiện cùng túi pháo bỏ chạy khỏi hiện trường. Đến 21 giờ 30 phút cùng ngày Th đến cơ quan công an thành phố H đầu thú. Số pháo còn lại Th cất dấu tại khu vực chuồng bò được Lý Thúy H vợ Th khi dọn dẹp nhà cửa phát hiện. H đã trình báo và tự nguyện giao nộp cho cơ quan công an. Tại biên bản mở niên phong cân tịch khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong ngày 03/02/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H cân tịch khối lượng pháo Vàng Chỉn Th vận chuyển là 20,5 kg (Hai mươi phẩy năm kilogam). Tiến hành lấy 02 vật chứng ký hiệu từ A1, A2 cho vào họp bìa cát tông có kích thước 32 x 20 x 19cm niêm phong gửi đi giám định theo quy định.
Tại bản Kết luận giám định số: 44/KL-PC09 ngày 07/02/2020, của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang kết luận: Mẫu vật gửi giám định ký hiệu A1; A2 là pháp có đầy đủ đặc tính của pháo nổ(có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ). * Vật chứng vụ án:
- 01(một) đôi dép tông màu xanh đã qua sử dụng của Th . Hiện chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố để quản lý theo quy định của pháp luật.
- 01 hộp bìa cattong kích thước: 45 x 45 x 30cm; ký hiệu là M1 – M2 bên trong có chứa mẫu vật còn lại và được niêm phong theo quy định của pháp luật.
Hiện Công an thành phố H, tỉnh Hà Giang đang quản lý theo quy định của pháp luật.
- 01(một) xe mô tô nhãn hiệu HONDAVISION, màu sơn nâu, biển kiểm soát 23H1-085.61 đã qua sử dụng (không kiểm tra tình trạng chất lượng bên trong).
- 01(một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 008546 mang tên Lý Thúy H do Công an huyện V cấp ngày 14/6/2013.
Hiện số vật chứng này cơ quan CSĐT Công an thành phố H đã trả cho Lý Thúy H theo quyết định số 07/QĐ-CQĐT ngày 03/0/2020
Bản cáo trạng số 12/CT- VKTPHG ngày 20/03/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Hà Giang đã truy tố bị cáo Vằng Chỉn Th về tội "Vận chuyển hàng cấm" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan CSĐT, và phù hợp với tài liệu chứng cứ chứng minh do Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an thành phố H, tỉnh Hà Giang thu thập được về thời gian, địa điểm, hành vi mà bị cáo đã thực hiện, cũng như vật chứng thu giữ được tại hiện trường, phù hợp với kết quả điều tra, nội dung vụ án.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố H sau phần xét hỏi và tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật như nội dung Cáo trạng truy tố đã nêu. Đề nghị:
- Tuyên bố bị cáo Vàng Chỉn Th phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
- Hình phạt:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 1, 2 Điều 65 - Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Vàng Chỉn Th từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng.
- Về tang vật : Áp dụng Điều 47, 48 BLHS * Tịch thu tiêu hủy:
- 01 hộp bìa cattong kích thước: 45 x 45 x 30cm; ký hiệu là M1 – M2 bên trong có chứa mẫu vật còn lại và được niêm phong theo quy định của pháp luật.
Hiện Công an thành phố H, tỉnh Hà Giang đang quản lý theo quy định của pháp luật.
- 01(một) đôi dép tông màu xanh đã qua sử dụng của Th . Hiện chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố để quản lý theo quy định của pháp luật.
- Về án phí HSST : Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật. Bị cáo Th không có ý kiến đối đáp lại đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo thực hiện quyền nói lời sau cùng: Bị cáo đều đã nhận thức được hành vi của mình đã vi phạm pháp luật, bị xử lý về hình sự là thỏa đáng. Bị cáo hứa sẽ cải tạo tốt và xin được hưởng khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử vụ án nhận định như sau: [1] Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều được thực hiện trình tự, thủ tục theo đúng quy định của pháp luật, không có khiếu nại, tố cáo. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Vàng Chỉn Th, quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như sau: Vào khoảng 7 giờ 30 ngày 24/01/2020 bị cáo Vàng Chỉn Th đã thực hiện hành vi vận chuyển hàng cấm(pháo) trên xe mô tô nhãn hiệu HONDAVISION, màu sơn nâu, biển kiểm soát 23H1-085.61 do Th tự điều khiển khi đến khu vực tổ 03, phường Q, thành phố H, tỉnh Hà Giang, thì bị Công an phường Q phát hiện kiểm tra, Th đã để lại phương tiện và túi nilon pháo bỏ chạy khỏi hiện trường. Đến 21 giờ cùng ngày Th đã ra Công an thành phố H, tỉnh Hà Giang đầu thú, khối lượng pháo do Vàng Chỉn Th vận chuyển là 20,5 kg (Hai mươi phẩy năm kilogam).
Tại bản Kết luận giám định số: 44/KL-PC09 ngày 07/02/2020, của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang kết luận: Mẫu vật gửi giám định ký hiệu A1; A2 là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ(có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ). Đối chiếu với các qui định tại Nghị định số 36/2009/NĐ-CP, ngày 15/4/2009 của Chính phủ về Quản lý, sử dụng pháo thì bên trong mẫu ký hiệu A1, A2 là pháo nổ, bên trong có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích (hoặc đốt) có gây tiếng nổ.
Như vậy, có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo Vàng Chỉn Th đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển hàng cấm” tội phạm được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Hà Giang, truy tố bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước, bị cáo đều nhận thức rõ việc Nhà nước đã cấm mọi hành vi sản xuất, buôn bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng pháo nổ hoặc pháo hoa gây nổ. Bị cáo đều ý thức được hành vi vận chuyển pháo nổ là bị cấm nhưng vẫn cố ý phạm tội, hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương, làm gia tăng tình hình tội phạm chung. Trong vụ án này bị cáo Vàng Chỉn Th một mình thực hiện hành vi phạm tội vận chuyển pháo và trên đường vận chuyển pháo đến khu vực tổ 03, phường Q, thành phố H, tỉnh Hà Giang thì bị phát hiện. Do vậy bị cáo phải tự chịu trách nhiệm độc lập về hành vi phạm tội của mình, số lượng pháo bị cáo Th vận chuyển là 20,5 kg. Nên cần buộc bị cáo Th phải bị xử phạt một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. [3]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có. [4]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Th phạm tội lần đầu, thành khẩn khai nhận, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.
Xét về nhân thân: Bị cáo Vàng Chỉn Th đã trưởng thành có hiểu biết xã hội, là người dân tộc không biết chữ, sống vùng sâu, vùng xa, hiểu biết pháp luật hạn chế, vì hán lợi công vận chuyển số tiền 1 triệu đồng, bị cáo đã thực hiện việc vận chuyển số pháo trên đến địa điểm đã giao hẹn, do vậy bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra để cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Đối với bị cáo Th nhân thân năm 2015 đã bị Tòa án huyện V xử phạt 9.000.000đ(chín triệu đồng) về tội đánh bạc đã được xóa án tích, với các tình tiết nêu trên cần cho bị cáo tự cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và gia đình cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, bị cáo Th sau khi bị Công an phường Q phát hiện kiểm tra Th bỏ chạy, cùng ngày Th đã nhận thức được hành vi vận chuyển pháo của mình là vi phạm pháp luật, Th đã ra Công an thành phố H đầu thú,
đầu thú của bị cáo Th khi quyết định hình phạt HĐXX cũng phải cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ. Áp dụng khoản 1, 2 Điều 65 - BLHS năm 2015 có 02 tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai nhận, ăn năn hối cải, phạm tội ra đầu thú, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Cần áp dụng điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật. [5]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 191 Bộ luật hình sự năm 2015 quy đinh “Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 10.000.000,đ đến 50.000.000,đ”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa bị cáo là người dân tộc sống vùng khó khăn, nghề nghiệp chủ yếu là làm nương, ruộng, không có mức thu nhập ổn định. Vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Th. [6]. Về vật chứng vụ án:
- Cơ quan điều tra đã thu giữ toàn bộ số pháo của bị cáo Th, đã được niêm phong theo quy định. Xét thấy đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu xử lý theo quy định của pháp luật. Căn cứ vào Điều 8 nghị định 26/2012/NĐ-CP ngày 18/02/2012 của chính phủ, quy định trình tự thủ tục thẩm quyền và kinh phí phục vụ việc tiếp nhận, thu gom, phân loại, bảo quản, Th lý, tiêu hủy vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ tư pháp; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự giao cho Công an thành phố H, tỉnh Hà Giang xử lý theo thẩm quyền.
Đối với người đàn ông đã thuê Th vận chuyển pháo, hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch, Cơ quan điều tra đang tiếp tục điều tra làm rõ và sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với Lý Thuý H là người cho Th mượn xe mô tô nhãn hiệu HONDAVISION màu sươn nâu, biển kiểm soát 23H1-085.61 để làm phương tiện đi lại, H không biết Th sử dụng chiếc xe trên làm phương tiện thực hiện hành vi vận chuyển hàng cấm, H cũng là người phát hiện số pháo để ở chuồng bò của gia đình và tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra, việc Th vận chuyển và cất giấu pháo, H không biết, do vậy Cơ quan điều tra không xử lý. [7]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, 48 BLHS * Tịch thu tiêu hủy:
- 01 họp bìa cattong kích thước 45 x 45 x 30cm; ký hiệu là M1-M2 bên trong có chứa mẫu vật còn lại và được niêm phong theo quy định của pháp luật.
- 01(một) đôi dép tông màu xanh đã qua sử dụng của Th . Hiện chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố để quản lý theo quy định của pháp luật. * Đối với số vật chứng trong giai đoạn điều tra. Công an thành phố H đã trả lại cho chị Lý Thúy H theo quyết định số 07/QĐ-CQĐT ngày 03/0/2020 gồm 01(một) xe mô tô nhãn hiệu HONDAVISION, màu sơn nâu, biển kiểm soát 23H1-085.61 đã qua sử dụng (không kiểm tra tình trạng chất lượng bên trong), 01(một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 008546 mang tên Lý Thúy H cấp ngày 14/6/2013. [8]. Bị cáo Vàng Chỉn Th phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65; điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự năm 2015.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ vào Điều 8 nghị định 26/2012/NĐ-CP ngày 18/02/2012 của chính phủ, quy định trình tự, thủ tục, thẩm quyền và kinh phí phục vụ việc tiếp nhận, thu gom, phân loại, bảo quản, Th lý, tiêu hủy vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ tư pháp; -Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự vàkhoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. * Tuyên bố bị cáo Vàng Chỉn Th phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”. Xử phạt bị cáo Vàng Chỉn Th 15( Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 06/4/2020.
Giao bị cáo Vàng Chỉn Th cho UBND xã P, huyện V, tỉnh Hà Giang và gia đình nơi bị cáo cư trú cùng giám sát, giáo dục bị cáo Th. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự. * Xử lý vật chứng: Tuyên tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) hộp bìa cattong kích thước 45cm x 45cm x 30cm; bên trong có chứa pháo được niên Phong theo quy định, ký hiệu M1-M2 Số vật chứng đã chuyển đến Kho vật chứng của Công an tỉnh Hà Giang quản lý theo quy định của pháp luật.
- 01(một) đôi dép tông màu xanh đã qua sử dụng của bị cáo Th hiện chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố để quản lý theo quy định của pháp luật. * Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Vàng Chỉn Th phải chịu 200.000 đ, án phí hình sự sơ thẩm. Án xử công khai sơ thẩm hình sự có mặt bị cáo, báo cho bị cáo Th biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có QLNVLQ vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niên yết .
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh Hà Giang; - Sở tư pháp tỉnh Hà Giang; - Viện kiểm sát TP.H, tỉnh Hà Giang; - Công an TP.H, tỉnh Hà Giang; - CQ THAHS TP H, tỉnh Hà Giang; - Bị cáo Th; - UBND xã P, huyện V, tỉnh Hà Giang; - Lưu HS – BP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Sùng Thị Mai |