- Tranh chấp gì? án hình sự — "BC Hà Văn Hóa - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hà Văn H (tên gọi khác: Hà Duy H), phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự trả lại
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 09/2020/HS-ST Ngày 18 - 02 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bằng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lò Thị Dỉnh
Ông Lò Văn Mấng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Thắm - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2019/HSST ngày 27 tháng 12 năm 2019, quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2020/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2020, đối với bị cáo:
Họ và tên: Hà Văn H (tên gọi khác: Hà Duy H) - Sinh năm: 1972; Nơi sinh: Tại tỉnh Thái Bình; Nơi ĐKHKTT: phường T, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên; Chỗ ở trước ngày bị bắt: phường M, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Dược sỹ; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hà Quang V (đã chết) và bà Bùi Thị H - Sinh năm 1951; Bị cáo không có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/11/2019 đến ngày 12/11/2019 thì bị tạm giam cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 10 phút, ngày 03/11/2019, bị cáo Hà Văn H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 27B1 - 007.04 đến khu vực để xe của Bệnh viện y học cổ truyền tỉnh Điện Biên, thuộc phường M, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên. Khi bị cáo vừa dừng xe thì tổ công tác, đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an thành phố Đ làm nhiệm vụ yêu cầu kiểm tra, bị cáo thả trong lòng bàn tay phải xuống đất, cách chân phải của bị cáo khoảng 10 cm, một gói nhỏ bằng lá cây màu xanh, bên trong là gói nilon màu trắng chứa các cục chất bột thể rắn màu trắng đục. Bị cáo khai đó là Heroine, bị cáo mua được của một người đàn ông không biết tên, địa chỉ vào khoảng 11 giờ 40 phút cùng ngày ở khu vực C17, xã Thanh Xương, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên với giá 200.000đ, bị cáo mua nhằm mục đích để bản thân sử dụng.
Tại Bản kết luận giám định số 1012/GĐ-PC09 ngày 10/11/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên, kết luận: Mẫu chất bột màu trắng ký hiệu M gửi giám định là ma túy, loại Heroine; khối lượng là 0,97 gam. Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 9, Mục IA, Danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018.
Tại Bản cáo trạng số: 02/CT- VKSTPĐBP ngày 26/12/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Hà Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, tỉnh Điện Biên giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và khẳng định hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 12 đến 18 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản nên không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung, đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,94 gam Heroine (đã trừ mẫu giám định); 01 mảnh lá thực vật màu xanh và 01 mảnh nilon màu trắng.
Về án phí: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát và không có tranh luận gì với lời luận tội của Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định: Vào hồi 12 giờ 10 phút ngày 03/11/2019, tại khu vực để xe của Bệnh viện y học cổ truyền tỉnh Điện Biên, thuộc phường M, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên, bị cáo Hà Văn H (tên gọi khác: Hà Duy H) đã có hành vi cất giấu trái phép trên người 0,97 gam Heroine với mục đích để bản thân sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Bởi vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ đã truy tố và kết luận bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS xử phạt bị cáo từ 12 đến 18 tháng tù là có căn cứ, đúng pháp luật, bị cáo không bị oan.
. Về tính chất, mức độ, động cơ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy đối với bản thân và cộng đồng cũng như nhận thức được chính sách pháp luật hình sự của nhà nước đối với những hành vi mua bán, tàng trữ ... trái phép chất ma túy nhưng để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, bị cáo đã bất chấp các quy định của pháp luật, cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn thành phố Đ. Trước khi thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị cáo chưa phạm tội và chưa vi phạm hành chính lần nào, bị cáo bản thân là người nghiện và lệ thuộc vào ma túy, là một tệ nạn xã hội nên mới phạm tội. Do vậy, cần phải áp dụng một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại giai đoạn điều tra, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị phạt tiền theo quy đinh tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự, tuy nhiên xét bị cáo không có tài sản có giá trị nên không có khả năng thi hành án. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Trong hồ sơ vụ án còn thể hiện: Bị cáo mua ma túy của một người đàn ông nhưng không biết tên, địa chỉ nên không có cơ sở xem xét, giải quyết trong vụ án.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,94 gam Heroine (đã trừ mẫu giám định); 01 mảnh lá thực vật màu xanh và 01 mảnh nilon màu trắng.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 27/12/2019 giữa cơ quan cảnh sát điều tra, Công an thành phố Đ và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đ).
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA JUPITER, màu xanh, xe đeo BKS 27B1 - 007.04, số khung RLCJ5VT204Y056162, số máy 5VT2-56162 xe đã qua sử dụng, là tài sản của ông Trần Xuân Hoa. Ông Hoa cho con trai là anh Trần Ngọc Bình mượn xe làm phương tiện đi lại, sau đó anh Bình cho bị cáo H mượn, ông Hoa và anh Bình không biết bị cáo mượn xe để đi mua ma túy; Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu FPT màu đen, kèm theo hai sim số của nhà mạng Viettel là tài sản của bị cáo, bị cáo không sử dụng chiếc điện thoại vào việc phạm tội. Do các tài sản trên không liên quan đến vụ án, cơ quan cảnh sát điều tra, Công an thành phố Đ căn cứ Điều 36 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự trả lại cho chủ sở hữu ông Trần Xuân Hoa và bị cáo (bị cáo ủy quyền cho ông Hà Duy Hiển là chú ruột của bị cáo nhận tài sản) là đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
(Theo biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu ngày 06/12/2019 giữa cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Đ với ông Trần Xuân Hoa và ông Hà Duy Hiển).
. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;
1. Tuyên bố bị cáo Hà Văn H (tên gọi khác: Hà Duy H), phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo 13 (mười ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 03/11/2019).
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự. Tịch thu, tiêu hủy: 0,94 gam Heroine (đã trừ mẫu giám định); 01 mảnh lá thực vật màu xanh và 01 mảnh nilon màu trắng.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 27/12/2019 giữa cơ quan cảnh sát điều tra, Công an thành phố Đ và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đ).
Chấp nhận việc trả lại tài sản cho chủ sở hữu tài sản là ông Trần Xuân Hoa và bị cáo của cơ quan Cảnh sát điều tra, công an thành phố Đ.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội kH 14, Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (18/02/2020).
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Điện Biên; - TAND tỉnh Điện Biên; - Sở tư pháp; - VKSND thành phố Đ; - CA thành phố ĐBP; - Nhà Tạm giữ Công an TP.Đ; - Hồ sơ THA hình sự; - Chi cục THADS TP Đ; - Bị cáo; - Lưu: VP, hồ sơ vụ án; THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHÊN TÒA Nguyễn Thị Bằng THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |