- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Th - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm b khoản 2 Điều 53; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2020/HS-ST Ngày: 13/3/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH - TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Thu Hiếu
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Quang Vinh
Bà Vũ Thị Yên
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Nga - Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Cam Ranh tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Nhật – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 03 năm 2020 tại Trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Cam Ranh – tỉnh Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 10/2020/TLST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2020/QĐST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2019 đối với các bị cáo:
Họ và tên: Lê Th (tên gọi khác: Ky) - sinh năm 1982 tại Cam Ranh, Khánh Hòa; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: thôn S, xã BCM, huyện KS, Khánh Hòa; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Nghề nghiệp: không; Con ông: Lê Phước Đ và bà: Huỳnh Thị Ngọc B; có vợ và 02 con (lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2014);
Tiền sự: không;
Tiền án: 04
- Ngày 02/7/2002 bị Toà án nhân dân thị xã Cam Ranh xử phạt 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/10/2004.
- Ngày 18/5/2006 bị Toà án nhân dân thị xã Cam Ranh xử phạt 06 năm tù về tội “Cướp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 133 BLHS; 03 năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 135 Bộ luật hình sự năm 1999. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/11/2012.
- Ngày 22/6/2015 bị Toà án nhân dân thành phố Cam Ranh xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999.
- Ngày 02/7/2015 bị Toà án nhân dân thành phố Cam Ranh xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999. Tổng hợp hình phạt bị cáo phải chấp hành là 03 năm tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/11/2017.
Bị cáo áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 31/10/2019, tạm giam từ ngày 07/11/2019 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Bà Đoàn Thị Thu T – sinh năm 1984. Nơi cư trú: TDP TP, phường CT, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Huỳnh Trần Chính Q – sinh năm 1986. Nơi cư trú: TDP LT, phường CL, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng:
1. Ông Huỳnh Văn L – sinh năm 1987. Nơi cư trú: TDP TT, phường CT, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.
2. Bà Tou Prons Nai D – sinh năm 1980. Nơi cư trú: TDP TT, phường CT, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.
3. Bà Trần Ngọc Thủy – sinh năm 1993. Nơi cư trú: TDP TP, phường CT, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 04 giờ ngày 31/10/2019, Th điều khiển xe môtô 79K8-3921 đi trên đường NBK đến khu vực Chợ Mới thuộc phường CT, thành phố C để tìm tài sản trộm cắp. Th để xe ở đầu hẻm rồi đi bộ đến dãy nhà trọ ở Tổ dân phố TP, phường CT, thành phố C. Th thấy cổng dãy nhà trọ không khóa, có 03 xe mô tô đang để ở sân, không có người trông coi. Tại cửa phòng trọ đầu tiên có gắn 01 chùm chìa khóa trên cửa. Th lấy chùm chìa khóa, sử dụng 01 chìa khoá gắn vào ổ khóa xe môtô 68T1-26933 của chị Đoàn Thị Thu T thì mở được khoá xe. Trên xe mô tô có 01 áo mưa, 01 nón bảo hiểm. Th điều khiển xe môtô 68T1-26933 đến cất giấu tại khu nhà bỏ hoang của Xí nghiệp muối ở tổ dân phố TL, phường BN, thành phố C.
Sau đó, Th quay lại khu vực Chợ Mới, lấy xe môtô 79K8-3921 rồi điều khiển xe đến nhà Huỳnh Trần Chính Q rủ Q đi mua ma túy sử dụng. Khi Th và Q đến khu vực nhà bỏ hoang của xí nghiệp muối tổ dân phố TL, phường BN, thành phố C để sử dụng ma túy thì bị phát hiện (bút lục số 07, 08, 26 đến 32, 86 đến 100).
Tại Kết luận định giá tài sản số 100 ngày 01/11/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng thành phố Cam Ranh kết luận: xe môtô hiệu Honda SH mode, biển số 68T1-26933 trên, trị giá 44.920.000 đồng (bút lục 14 đến 17).
Tại Kết luận định giá tài sản số 103 ngày 18/11/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng thành phố Cam Ranh kết luận: áo mưa cánh dơi màu xanh, trị giá: 55.000 đồng; 01 nón bảo hiểm màu đỏ trắng hiệu Andes, trị giá: 196.000 đồng. Tổng giá trị là 251.000 đồng (bút lục 18 đến 21).
Tại Bản cáo trạng số 09/CT-VKSCR-HS ngày 20/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Cam Ranh đã truy tố bị cáo Lê Th về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Cam Ranh đã giữ nguyên kết luận truy tố đối với bị cáo; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử như sau:
- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo từ 2 năm 06 tháng đến 03 năm 06 tháng tù, về tội “trộm cắp tài sản”.
- Vật chứng vụ án: trả lại cho Huỳnh Trần Chính Q 01 cây dao tự chế dài 40cm, bên ngoài có vỏ bọc bằng nhựa màu đen, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng.
- Phần dân sự: Người bị hại đã nhận được tài sản và không có yêu cầu gì nên không xét.
- Về án phí: đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội có diễn biến như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Cam Ranh đã nêu và cho rằng việc truy tố bị cáo là đúng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.
Về thủ tục tố tụng: tại phiên tòa, vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng. Xét thấy việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ theo các Điều 292 và 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về hành vi phạm tội của bị cáo theo cáo trạng truy tố thì thấy: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội có diễn biến như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Đủ căn cứ để xác định: Đến khoảng 04 giờ ngày 31/10/2019, tại nhà trọ của ông Phạm Ngọc C ở tổ dân phố TP, phường CT, thành phố C; Lê Th có hành vi trộm cắp xe môtô hiệu Honda SH mode, biển số 68T1-26933; 01 áo mưa cánh dơi; 01 nón bảo hiểm hiệu Andes. Tổng trị giá là 45.171.000 đồng. Nhân thân bị cáo đã bị kết án trong trường hợp tái phạm lại tiếp tục phạm tội nên được coi là tái phạm nguy hiểm theo điểm b khoản 2 Điều 53 của Bộ luật hình sự. Như vậy, hành vi của bị cáo Lê Th đã phạm tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Cam Ranh đối với bị cáo là đúng người, đúng tội.
Đối với Lê Th, Huỳnh Trần Chính Q có hành vi tàng trữ trái phép ma tuý. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cam Ranh đang điều tra làm rõ xử lý sau.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, đã lén lút chiếm đoạt tài sản, xâm phạm quyền sở hữu của người khác gây mất trật tự trị an địa phương. Nhưng bên cạnh đó, cần xem xét bị cáo cũng đã thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải; tài sản trộm cắp đã được thu hồi trả lại cho bị hại nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy nên cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
Về trách nhiệm dân sự: bị hại không có yêu cầu nên không xét.
Về vật chứng: 01 cây dao tự chế dài 40cm, bên ngoài có vỏ bọc bằng nhựa màu đen, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng thu của Huỳnh Trần Chính Q liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Q đang bị điều tra nên giao lại cho cơ quan Cảnh sát điều tra – công an Thành phố Nha Trang để xử lý theo quy định.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm b khoản 2 Điều 53; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự;
- Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
1. Tuyên bố: bị cáo Lê Th (tên gọi khác: Ky) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Xử phạt: Bị cáo Lê Th 2 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn phạt tù tính từ ngày 31 tháng 10 năm 2019.
3. Về vật chứng: Giao lại cho Cơ quan Cảnh sát Điều tra – Công an Thành phố Cam Ranh 01 (một) cây đao tự chế dài 40cm bên ngoài có vỏ bọc bằng nhựa màu đen, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng có răng cưa theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21 tháng 01 năm 2020 giữ Cơ quan Cảnh sát Điều tra – Công an Thành phố Cam Ranh và Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Cam Ranh.
4. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND TP. Cam Ranh - Bị cáo, người tham gia tố tụng. - Công an TP. Cam Ranh - Chi cục THADS Tp. Cam Ranh - TAND tỉnh Khánh Hòa - Sở tư pháp tỉnh Khánh Hòa; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ CATP Cam Ranh; - Lưu án văn, hs | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hiếu |