- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh Ph phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh Phương ph tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PA TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 09/2020/HS-ST Ngày 07/5/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PA TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ksor Pep.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Văn Thoát
2. Bà Phan Thị Mỹ Lệ
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Dung – Thư ký Toà án, Toà án nhân dân huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Nay San - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 5 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 12/2020/TLST –HS ngày 11 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2020/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Thanh Ph, sinh năm 1985 tại huyện Thạch Trị, tỉnh Sóc Trăng; Nơi ĐKHKTT: Ấp 16/1, xã Vĩnh Thạnh, huyện Thạch Trị, tỉnh Sóc Trăng; Nơi tạm trú: Tổ dân phố 7, thị trấn Phú Túc, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh Tvà bà Lê Thị L; bị cáo có vợ là chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1989 và có 01 con sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 04/01/2020, đến ngày 09/01/2020 chuyển sang tạm giam và tạm giam liên tục cho đến nay và có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại:
Chị Trần Thị Mộng Đ, sinh năm 1985; trú tại: Tổ dân phố 4, thị trấn Phú Túc, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ 00 ngày 03/01/2020, Nguyễn Thanh Ph đến cửa hàng bán phụ tùng xe máy của chị Trần Thị Mộng Đ ở tổ dân phố 1, thị trấn Phú Túc, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai để mua phụ tùng xe. Trong lúc mua đồ, Phương thấy 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s của chị Điệp đang sạc trên kệ phụ tùng. Thấy chị Đ mất cảnh giác, Ph dùng tay rút dây sạc ra khỏi máy rồi lấy điện thoại bỏ vào trong túi quần, sau đó đi về nhà cất giấu điện thoại trong phòng ngủ của Ph với mục đích để sử dụng. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, chị Đ phát hiện bị mất điện thoại nên đã kiểm tra Camera an ninh thì thấy Ph là người trộm cắp nên đã báo cho Công an thị trấn Phú Túc để truy bắt và xử lý. Cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập Nguyễn Thanh Ph để làm việc. Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thanh Ph đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình đã nêu trên và giao nộp chiếc điện thoại đã trộm cắp được cho Cơ quan điều tra.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 07/KL-HĐĐG ngày 09/01/2020 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự xác định: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s 32GB màu hồng trị giá 3.500.000 đồng và sim số thuê bao Viettel 0967.796.852 có trị giá 50.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị xâm phạm là 3.550.000 (ba triệu năm trăm năm mươi ngàn đồng).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng định giá nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 12/CT-VKS ngày 11 tháng 3 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Nguyễn Thanh Ph về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là BLHS).
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu.
Người bị hại có quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX) giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Thanh Ph.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thanh Ph phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử (sau đây gọi tắt là HĐXX): Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của BLHS năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Ph từ 04 tháng đến 06 tháng tù; buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định về hành vi phạm tội của bị cáo như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Krông Pa, Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo cũng như người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Vào khoảng 18 giờ 00 phút, ngày 03/01/2020, bị cáo Nguyễn Thanh Ph đã lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của bị hại là chị Trần Thị Mộng Đ, bị cáo Phương đã lén lút, bí mật chiếm đoạt 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu hồng cùng sim số thuê bao Viettel 0967.796.852 có trị giá 3.550.000 đồng (ba triệu năm trăm năm mươi ngàn đồng). Mục đích, động cơ chiếm đoạt tài sản là nhằm tư lợi cá nhân. Hành vi trên của bị cáo đã xâm phạm vào quyền sở hữa tài sản hợp pháp của công dân. Hành vi của bị cáo rõ ràng là có lỗi và sai trái với đường lối, chính sách pháp luật hình sự của Nhà nước ta, nay bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự và hậu quả pháp lý đã gây ra là có căn cứ pháp lý.
Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung của bản cáo trạng, lời khai của bị hại và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh Ph đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của BLHS 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pa truy tố bị cáo về hành vi theo tội danh trên là đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.
Về tình tiết định khung hình phạt: hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh Ph không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở khoản 1 Điều 173 của BLHS năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017..
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Thanh Ph không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Nguyễn Thanh Ph là người bình thường, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì tham lam, thích hưởng lợi bất chính trên thành quả lao động của người khác nên đã lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu tài sản và đã lén lút, nhanh chóng, trực tiếp chiếm đoạt của bị hại là chị Trần Thị Mộng Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu hồng cùng sim số thuê bao Viettel 0967.796.852 có trị giá 3.550.000 đồng nhằm mục đích tư lợi bất chính, gây hậu quả xấu cho xã hội làm mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của xã hội. Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như hành vi phạm tội của bị cáo gây thiệt hại không lớn; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng cho bị cáo khi lượng hình được quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác được áp dụng cho bị cáo quy định tại Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về hình phạt:
Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì HĐXX thấy bị cáo Phương là người có nhân thân tốt, từ trước đến nay chưa có vi phạm pháp luật, vợ của bị cáo đang mang thai 22 tuần tuổi; bị cáo có từ 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của BLHS nên trong trường hợp này bị cáo có đủ điều kiện áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo Điều 54 của BLHS.
Về hình phạt bổ sung bằng tiền quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì xét thấy thu nhập của bị cáo không ổn định, đời sống còn gặp nhiều khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo
Xét lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về điều luật áp dụng, các tình tiết giảm nhẹ và mức hình phạt là có căn cứ và phù hợp pháp luật nên HĐXX chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo Phương đã chiếm đoạt của chị Trần Thị Mộng Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s 32GB màu hồng và sim số thuê bao Viettel 0967.796.852 có trị giá là 3.550.000 (ba triệu năm trăm năm mươi ngàn đồng). Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc điện thoại trên cho chị Trần Thị Mộng Đ. Tại phiên tòa giữa bị cáo và người bị hại không có bên nào có ý kiến yêu cầu hay tranh chấp gì nên trách nhiệm dân sự trong vụ án này Hội đồng xét xử không đề cập đến nữa.
Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thanh Ph phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh Phương ph tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1; Khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Ph 04(bốn) tháng 05(năm) ngày tù, được trừ 04(bốn) tháng 05(năm) ngày thời gian đã tạm giữ, tạm giam truớc đây. Bị cáo Nguyễn Thanh Ph đã chấp hành xong và đuợc trả tự do ngay tại phiên tòa.
2. Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án: Bị cáo Nguyễn Thanh Ph phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (07/5/2020) để yêu cầu Toà án Nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Gia Lai; -VKSND H.Krông Pa; -Công an H.Krông Pa; -Bị cáo; -Người bị hại; -Chi cục THADS H.Krông Pa; -Lưu HS vụ án, THA hình sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Ksor Pep |